Địa chỉ : Số 118 - Tổ 9 K3 - Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội. Tel: 04 2245 0069 - Fax : 043 763 2942 - Hotline: 0982 530 567
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc

Tìm kiếm

Ngôn ngữ: Vietnam English

Hỗ trợ trực tuyến

Quảng cáo

Kiến thức

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM  thuốc BVTV 2013

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM thuốc BVTV 2013

Thông tư Số 21 /2013/TT-BNNPTNT ngày 17 thang 4 năm 2013 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và Danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam

xc

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Tập định mức đơn giá phòng trừ mối trong công trình xây dựng và xử lý côn trùng gây hại ban hành kèm theo Quyết định số: 20QĐ/TWH ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam.

xc

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản) được phép sử dụng, hạn chế tại VIệt Nam năm 2012

xc

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc BVTV 2012 được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, và cấm sử dụng tại Việt Nam năm 2012 ban hành kèm theo thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/2/2012.

xc

Các loại côn trùng

  • cc9
  • ct9
  • ct6
  • ct 5a
  • ct4
  • Ct1
  • k9a
  • k9
  • k8
  • k7
  • k6
  • k5
  • k4
  • k3
  • k2
  • k1
  • nhen
  • bongua
  • bongua
  • kien7
  • kien5
  • dao xuan
  • kien
  • Moilinh1
  • Acromyrmex1
  • kien cat la 1
  • la suong
  • top 5
  • kien cat la
  • ctn 3t bo 12
  • ctn 3t bo2
  • ctn 3t bo 1
  • ctn 3t bo 8
  • ctn 3t BO4
  • ctn2tranh 8
  • ctnew1
  • moitho
  • moichua1
  • moi tho
  • ong bap cay
  • Bo 11
  • CONTRUNGLA
  • K.inchanus
  • hoa va ong
  • contrungla
  • Batterfly
  • Chuon1
  • 1-4
  • ct3
  • chuon chuon trang nau
  • chuon chuon ot
  • Chuon chuon
  • Termite
  • ong1
  • KIENLA
  • kien nam trong nam nho

Lợi ích của bảo quản lâm sản

Công nghệ Bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng và kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản. Đối tượng bảo quản lâm sản là gỗ, tre, nứa, song mây trong các khâu khai thác, chế biến và quá trình sử dụng như đồ mộc nội thất, các cấu kiện gỗ trong công trình xây dựng, trong phương tiện giao thông, gỗ cột cọc các loại...

 

   Hiện nay gỗ, tre nứa, song mây là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và các đồ gia dụng thiết yếu khác. Hầu hết các loài gỗ và lâm sản rất dễ bị các tác nhân sinh vật và phi sinh vật gây hại trong một thời gian ngắn. Đặc biệt, ở các nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới như nước ta, sinh vật hại lâm sản hoạt động rất mãnh liệt nên tổn thất về lâm sản do chúng gây ra rất nặng nề. Vì vậy, việc áp dụng mọi biện pháp để phòng trừ các tác nhân gây hại lâm sản càng trở nên bức thiết.
  Bảo quản gỗ và lâm sản bằng các biện pháp kỹ thuật và biện pháp sử dụng các chế phẩm bảo quản chính là nhằm chống lại sự xâm nhập và phá hoại của các loại sinh vật, đồng thời hạn chế những tác động bất lợi của môi trường. Kết quả của việc áp dụng công nghệ bảo quản lâm sản phải đạt được mục tiêu:
- Hạn chế đến mức thấp nhất sự hư hỏng gỗ và lâm sản do tác nhân sinh vật và phi sinh vật gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng.  
- Bằng biện pháp kỹ thuật có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản, phải kéo dài được thời gian sử dụng của gỗ và lâm sản lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình có sử dụng lâm sản. 
Áp dụng công nghệ bảo quản lâm sản sẽ góp phần sử dụng tài nguyên rừng một cách chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân. 
Để thấy rõ được hiệu quả kinh tế của vấn đề áp dụng công nghệ bảo quản lâm sản, có thể so sánh một số dẫn liệu điển hình về thời gian sử dụng gỗ không được bảo quản và gỗ được xử lý bảo quản, những tổn thất về lâm sản do sinh vật gây hại. Ở một số nước châu Âu, gỗ làm tà vẹt nếu không xử lý bảo quản chỉ sử dụng không quá 8 năm, nếu được bảo quản bằng hoá chất thì thời gian sử dụng trung bình khoảng 30 năm. Gỗ sử dụng làm cột điện được xử lý bảo quản cũng có tuổi thọ trên 20 năm, cá biệt có thể lên tới 50 - 60 năm.   

  

Hình 1. Gỗ tròn bị hư hỏng nặng trong quá trình lưu giữ tại kho bãi

Hình 2. Cột điện bị hư hỏng do không được bảo quản (ảnh Willeitner, 1992)

Bảng 1. Lượng gỗ hư mục hàng năm ở Liên Xô (cũ)
do bảo quản chưa tốt hoặc chưa được bảo quản

Theo Gorơsin S.N. 1977

Lĩnh vực sử dụng gỗ

Tuổi thọ sử dụng trung bình (năm)

Lượng gỗ mất mát hàng năm (triệu m3)

được bảo quản tốt

thực tế

Tà vẹt, trụ cầu

25

12,5

2,35

Cột điện

45

15

2,85

Trụ mỏ

10

2

0,08

Gỗ dùng trong xây dựng

20

10

10,00

Bao bì, khuôn đúc

4

2

0,50

Các lĩnh vực khác

10

5

0,56

      Hiện nay, công tác nghiên cứu về chế phẩm bảo quản lâm sản đang tiếp tục được triển khai theo hướng loại bỏ các thành phần hoá chất độc, sử dụng các hoạt chất nguồn gốc từ thực vật và vi sinh vật. Các chế phẩm đã được sử dụng theo hướng nghiên cứu này trong những năm gần đây gồm có: Chế phẩm sinh học diệt mối lây nhiễm DIMEZ (từ vi nấm Metarhizium), chế phẩm diệt mối lây nhiễm có nguồn gốc hoá học, chế phẩm bảo quản lâm sản từ dầu vỏ hạt điều... 

       Cấu tạo và tính chất chủ yếu của lâm sản có liên quan đến bảo quản lâm sản

       Gỗ là một dạng tồn tại vật chất có cấu tạo chủ yếu từ các thành phần cơ bản như: xenluloza (40-50%), hemixenluloza (15-25%), lignin (15-30%) và một số chất khác. Nó được khai thác chủ yếu từ các loài cây thân gỗ  

         Gỗ là phần nâng đỡ cho cây, gồm thân và cành. Gỗ phát triển tự nhiên và vì thế gỗ còn được coi là loại vật liệu có khả năng tái tạo được.

         Trong nghiên cứu cấu tạo của gỗ người ta thường nghiên cứu trên 3mặt cắt điển hình:

          Mặt cắt ngang: Là mặt cắt có phương vuông góc với trục dọc thân cây.

         Mặt cắt xuyên tâm: Là mặt cắt nghiên cứu có phương song song với trục dọc thân cây và đi qua tâm (lõi) thân cây.

         Mặt cắt tiếp tuyến: Mặt cắt gỗ có phương song song với trục dọc thân cây và vuông góc với một trong các đường thẳng xuyên tâm.

         Trên mặt cắt ngang gỗ của hầu hết các loài cây đều thể hiện rõ phần phía ngoài có màu nhạt gọi là gỗ giác và phần gỗ có màu đậm hơn ở phía trong gọi là gỗ lõi. Toàn bộ phần gỗ được bao bọc một lớp vỏ, lớp vỏ này bảo vệ cây khi đang còn sống. Sự phân biệt về cấu tạo thô đại của gỗ thành ba phần như vậy có liên quan mật thiết tới quá trình bảo quản gỗ.

        Gỗ sớm là phần gỗ sinh ra trong 1 chu kỳ sinh trưởng ở điều kiện sinh trưởng thuận lợi (ở Việt nam thường là mùa xuân hạ). Gỗ sớm thường có màu sáng hơn. Các tế bào gỗ sớm thường có vách mỏng, ruột lớn. Khả năng chịu các lực cơ học là thấp hơn.

      Gỗ muộn là phần gỗ sinh ra trong một chu kỳ sinh trưởng của cây gỗ ở điều kiện sinh trưởng không thuận lợi (ở Việt nam thường là mùa thu đông). Gỗ muộn thường có màu thẫm. Tế bào gỗ muộn vách dầy, ruột nhỏ, khả năng chịu tác động cơ học tốt.       

Gỗ giác, gỗ lõi

 Gỗ lõi:  là do gỗ giác hình thành nên. Đây là một quá trình biến đổi sinh học, vật lý và hóa họcrất phức tạp. Trước hết tế bào chết, thể bít hình thành, các chất hữu cơ xuất hiện: nhựa cây, chất màu, tanin, tinh dầu,... Ở trong ruột tế bào thấm lên vách tế bào làm cho gỗ lõi có màu sẫm, nặng, cứng, khó thấm nước, đồng thời có khả năng chống sâu, nấm, mối, mọt hơn gỗ giác. Phần gỗ lõi thông thường ít có khả năng thấm chất lỏng như nước, dung dịch hoà tan của các chất vô cơ, dung dịch chất hữu cơ... Chỉ có các loại chế phẩm bảo quản dạng muối hoà tan trong nước mới có thể thấm vào gỗ lõi thông qua quá trình khuếch tán khi độ ẩm của gỗ lõi còn cao.

        Gỗ giác: Thường dễ bị các sinh vật hại lâm sản tấn công. Hầu hết các loại gỗ, phần gỗ giác nếu xử lý bằng các phương pháp bảo quản phù hợp sẽ đạt được độ bền cao, chống lại sự gây hại của sâu nấm. Trên mặt cắt ngang gỗ lõi có màu sẫm hơn so với gỗ giác. Ở một vài loài, thường xuất hiện hiện tượng gỗ lõi bị rỗng. Không có mối quan hệ nào giữa tăng trường đường kính thân cây và thể tích gỗ giác, gỗ lõi. Có loài không hình thành gỗ lõi, có loài gỗ lõi hình thành từ rất sớm, khiến bề dày của gỗ giác rất mỏng (ví dụ gỗ cây họ Dẻ, họ Dâu tằm).

          Vỏ cây: Bảo vệ cây khi còn sống. Thông thường, nếu gỗ để cả vỏ sẽ gây cản trở quá trình thấm chế phẩm bảo quản vào gỗ, tuy nhiên xử lý bảo quản gỗ tươi theo phương pháp thay thế nhựa thì lại yêu cầu phải giữ nguyên vỏ cây trong quá trình xử lý.

          Vòng năm  Là vòng gỗ do tầng phát sinh phân sinh ra thường là 1 năm (tuỳ theo vị trí địa lý, ví

Mặt cắt ngang của một cây gỗ 
thanh tùng châu Âu (Taxus baccata).

dụ ở Việt Nam thì vòng tăng trưởng trùng với một năm). Độ rộng của vòng năm phản ảnh tốc độ sinh trưởng của một cây. Số lượng vòng năm cho ta biết tuổi cây. Trên mặt cắt ngang, vòng năm là những đường tròn đồng tâm, trên mặt cắt xuyên tâm chúng là những đường thẳng song song với nhau và có thể song song với trục dọc thân cây. Tùy từng đặc điểm sinh học của loài, đặc điểm thời tiết, điều kiện dinh dưỡng mà vòng năm có thể là dễ nhận biết hoặc khó nhận biết.

       Về cấu tạo giải phẫu:     

 Gỗ lá kim   là sản phẩm gỗ tự nhiên khai thác từ các loài cây lá kim. Cấu tạo gỗ lá kim rất đơn giản, thành phần cấu tạo chủ yếu gồm có quản bào vòng, quản bào dọc, tia gỗ, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, ống dẫn nhựa.  Thành phần hóa học của gỗ lá kim chủ yếu gồm: xenlulo chiếm 43-52%, hemixellulo chiếm 15-20%, lignhin chiếm 23-34%, ngoài ra còn 1 số chất phụ khác như chât màu, tinh dầu,...chiếm tỷ lệ rất ít. Đặc điểm chung của gỗ lá kim là vòng năm rõ, gỗ sớm gỗ muộn phân biệt rõ. Tia gỗ nhỏ và ít. Thớ gỗ thẳng, ít khi nghiêng thớ 

       Phần gỗ sớm được hình thành vào mùa xuân, gỗ muộn hình thành vào mùa hè, các tia gỗ được hình thành từ tâm gỗ. Gỗ lá rộng có thành phần cấu tạo gồm các bó mạch, sợi gỗ, và các tia gỗ. Quản bào và mạch gỗ là con đường chính dẫn truyền nhựa nguyên khi cây còn sống, trong quá trình ngâm tẩm thì đó lại là những đường dẫn truyền dung dịch chế phẩm bảo quản vào gỗ. Các khoảng rỗng trong ruột các tế bào gỗ sẽ là nơi chứa chế phẩm bảo quản khi gỗ được ngâm tẩm. Với cấu tạo như vậy, các công trình nghiên cứu lý thuyết về quá trình thấm và dẫn chất lỏng của gỗ đều coi gỗ là vật liệu xốp - mao mạch để vận dụng các định luật vật lý có liên quan trong quá trình nghiên cứu.

 Gỗ lá rộng là các sản phẩm gỗ tự nhiên khai thác từ thực vật lá rộng. Gỗ lá rộng có cấu tạo phức tạp hơn gỗ lá kim, các thành phần cấu tạo chủ yếu: mạch gỗ, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, tia gỗ, sợi gỗ, quản bào dọc, ống dẫn nhựa, cấu tạo lớp. Thành phần hóa học của gỗ lá rộng gồm: xenlulo chiếm 41-49%, hemixellulo chiếm 20-30%, lignhin chiếm 16-25%, ngoài ra còn có mặt của một số chất chiết xuất. Thành phần các nguyên tố là sắp xỉ nhau, tương tự gỗ lá kim không phụ thuộc vào loài cây: C 49-50%; O 43-44%; H ≈ 6%; N ≈1%.

         Nhược điểm :  

         Sinh trưởng chậm, đường kính có hạn, có nhiều khuyết tật tự nhiên. Cần sử dụng các biện

Gỗ bị gây hại bởi sinh vật hại gỗ

pháp kỹ thuật lâm - sinh hợp lý trong công tác trồng và chăm sóc rừng. Dễ mục, dễ bị sinh vật (mối, mọt,...) phá hoại. Cần phun tẩm các hóa chất chống mối mọt.Đàn hồi thấp. Cần biến tính gỗ bằng phương pháp ép hoặc ngâm hóa chất. Trong khi phơi sấy thường dễ nứt nẻ, cong vênh, biến hình. Cần có phương án cưa xẻ, bóc lớp thích hợp.Trong thân thường có các chất chiết xuất, thường gây khó khăn cho công việc trang sức bề mặt sản phẩm, hoặc ăn mòn các công cụ cắt gọt.  Tỷ lệ co dãn cao, sản phẩm thường chịu tác động lớn của độ ẩm, nhiệt độ môi trường. Cần loại bổ các yếu tố gây co dãn này.   Ngâm tẩm hóa chất nhằm thay thế các gốc (-OH) trong gỗ Sấy gỗ để loại bỏ nước tự do và nước thấm khỏi gỗ. Sấy ở nhiệt độ 103±2oCDễ bắt lửa, dễ cháy.  Cần ngâm tẩm hoặc sơn phủ các chất chống bắt lửa

  Tre nứa, song mây có cấu tạo thô rất khác biệt với gỗ. Tre nứa thường có thân rỗng, song mây có thân đặc. Thân chia thành các lóng. Trên mặt cắt ngang của tre nứa, song mây cũng chia ra ba phần: biểu bì, phần cật và phần ruột. Phần biểu bì có cấu tạo đặc biệt phù hợp với chức năng bảo vệ thân cây nên nó có khả năng cản trở dung dịch hoặc chế phẩm bảo quản thấm qua. Phần ruột thường xốp nhẹ, nên khi xử lý bảo quản cho tre nứa, song mây đã khô thì phần ruột rất dễ thấm dung dịch chế phẩm bảo quản. 

Đặc điểm cấu tạo giải phẫu của tre nứa, song mây liên quan mật thiết tới quá trình bảo quản đó là các tế bào của chúng hoàn toàn xếp dọc theo thân cây, hệ thống bó mạch được phân bố trên nền tổ chức mô mềm. Hệ thống ống mạch sẽ là con đường chính dẫn truyền dung dịch chế phẩm vào tre nứa, song mây trong quá trình ngâm tẩm bảo quản. Đặc biệt, khi tre nứa còn tươi rất dễ xử lý bảo quản theo phương pháp thay thế nhựa.

Thành phần hoá học của gỗ và lâm sản bao gồm xenlulo, hemixenlulo, linhin và các chất chứa trong ruột tế bào. Chính các chất này tạo ra sự khác nhau giữa các loại gỗ về màu sắc và độ bền tự nhiên chống lại sự phá hoại của sâu nấm.

Từ kinh nghiệm sử dụng gỗ và lâm sản, người ta dễ thấy rằng, ở mỗi loại có một độ bền cơ học (khả năng chịu lực) và độ bền tự nhiên (khả năng chống lại sự phá hoại của sinh vật và các yếu tố khác). Độ bền tự nhiên của gỗ phụ thuộc vào yếu tố cấu tạo, ở các điều kiện sử dụng cụ thể nó còn phụ thuộc vào ngoại lực và các yếu tố khác.

Để so sánh độ bền tự nhiên của các loại gỗ, người ta lấy khoảng thời gian kể từ lúc chặt hạ đến lúc gỗ bị các sinh vật phá hại đến mức không còn độ bền cơ học nữa để tính. Khoảng thời gian đó được coi là tuổi thọ của gỗ. Trên thực tế thì chưa ai xác định được tuổi thọ chính xác của từng loài gỗ, mà chỉ dựa vào kinh nghiệm. Đã có nhiều thí nghiệm xác định ảnh hưởng của các yếu tố sau đây đến độ bền tự nhiên của gỗ:

- Loài gỗ, trong đó đã có tuổi gỗ, gỗ giác, gỗ lõi, các chất chứa, cấu tạo gỗ

- Vai trò của các loài sinh vật

- Môi trường sử dụng gỗ

- Các yếu tố nhiệt độ, ẩm độ môi trường...

Các thí nghiệm xác định độ bền tự nhiên của gỗ và tre dù sao cũng chỉ là các điều kiện nhân tạo, không mang tính tự nhiên. Ta cũng biết rằng, trên một loài gỗ đồng thời bị tác động bởi nhiều yếu tố, sự phân định rạch ròi ảnh hưởng của từng yếu tố là điều kiện khó thực hiện. Song, trong thực tiễn người ta vẫn thừa nhận rằng, độ bền tự nhiên của gỗ phụ thuộc chủ yếu vào tính kháng tự nhiên của nó và khả năng xâm nhập phá hại của các sinh vật hại gỗ.

Bảng 2. Thời gian sâu nấm xâm nhập gây hại gỗ không xử lý bảo quản

Loại gỗ

Thời gian gỗ bị các sinh vật hại xâm nhập

Côn trùng hại gỗ tươi

Côn trùng hại gỗ khô

Nấm mốc gây biến màu

Nấm gây mục

Mối

Gỗ khúc tươi

Vài giờ

Không xâm nhập

Vài giờ

Vài tuần

Vài ngày, nếu tiếp xúc với đất

Gỗ xẻ tươi

Vài giờ đến vài ngày

Không xâm nhập

Vài giờ

Vài tuần

Như trên

Gỗ khô giữ trong kho hoặc đang sử dụng

Không xâm nhập

Vài tuần đến vài tháng

Không xâm nhập

Không xâm nhập

Vài tuần đến vài tháng theo điều kiện của địa phương

Gỗ đang sử dụng, ẩm

Không xâm nhập

Vài tuần đến vài tháng

Vài tuần

Vài tháng đến vài năm

Như trên

Gỗ đang sử dụng tiếp xúc với nền đất

Không xâm nhập

Hiếm khi xâm nhập

Không xâm nhập

Vài tuần đến vài tháng

Vài ngày

Bảng 3 Thời gian gỗ bị các yếu tố phi sinh vật gây hại

Loại gỗ

Loại tác nhân gây hại

Biến màu

Nứt vỡ do áp lực

Nứt do thoát ẩm

Gỗ khúc tươi

Vài ngày đến vài tuần

Ngay sau chặt hạ

Vài ngày đến vài tháng, phụ thuộc vào điều kiện phơi sấy và lưu giữ

Gỗ xẻ tươi

Vài ngày đến vài tuần

ít, thường xảy ra ngay sau khi xẻ

Như trên, nhưng chỉ đối với tấm gỗ xẻ có tiết diện lớn

Gỗ khô

Không

Không

Không

Khi gỗ được ngâm tẩm chế phẩm bảo quản nhằm kéo dài tuổi thọ cho gỗ thì có nghĩa là gỗ có một độ bền khác, ta gọi đó là độ bền nhân tạo. Ngày nay, người ta đều thừa nhận độ bền nhân tạo của gỗ sau ngâm tẩm cao hơn nhiều so với độ bền tự nhiên. Song cũng nảy sinh một vấn đề các chế phẩm bảo quản này liệu có làm giảm tính chất cơ lý của gỗ?

Ngâm tẩm chế phẩm bảo quản cho gỗ để phòng chống các sinh vật hại gỗ là nhằm kéo dài tuổi thọ cho gỗ, nhưng khi trong gỗ có thêm các chất hoá học này, kể cả các phức chất do chúng và gỗ tạo nên thì có ảnh hưởng gì đến tính chất cơ lý của gỗ? Đây là một vấn đề được nhiều người sử dụng gỗ quan tâm, do có một số nhà nghiên cứu cũng đã tiến hành khảo nghiệm.

Bảng 4. Độ bền tự nhiên của một số loại tre, gỗ khi đặt tại bãi thử tự nhiên

TT

Tên gỗ

Thời gian tồn tại trung bình của mẫu gỗ (tháng)

Ghi chú

1

Xoay

60

Thực hiện từ năm 1980 - 1985

Tại Hữu Lũng - Lạng Sơn

2

Mít nài

60

3

Chua khế

60

4

Gội tía

54

5

Bàng lang

54

6

Lòng mang

54

7

Chiêu liêu

48

8

Giẻ

42

9

Keo lá tràm

36

 

 

 

 

 

Thực hiện từ năm 2001 - 2004

 

 

 

Tại Xuân Mai - Hà Tây

10

Xà cừ

36

11

Keo lai

30

12

Bạch đàn Urophylla

30

13

Mỡ

30

14

Keo tai tượng

24

15

Trám trắng

18

16

Cao su

18

17

Bồ đề

12

18

Tre gai

18

19

Tre luồng

18

 

Vietmyiat theo " Giáo trình khoa học gỗ - Đại học Lâm nghiệp Việt Nam"
"http://vi.wikipedia.org"