Địa chỉ : Số 118 - Tổ 9 K3 - Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội. Tel: 04 2245 0069 - Fax : 043 763 2942 - Hotline: 0982 530 567
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc

Tìm kiếm

Ngôn ngữ: Vietnam English

Hỗ trợ trực tuyến

Quảng cáo

Kiến thức

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM  thuốc BVTV 2013

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM thuốc BVTV 2013

Thông tư Số 21 /2013/TT-BNNPTNT ngày 17 thang 4 năm 2013 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và Danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam

xc

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Tập định mức đơn giá phòng trừ mối trong công trình xây dựng và xử lý côn trùng gây hại ban hành kèm theo Quyết định số: 20QĐ/TWH ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam.

xc

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản) được phép sử dụng, hạn chế tại VIệt Nam năm 2012

xc

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc BVTV 2012 được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, và cấm sử dụng tại Việt Nam năm 2012 ban hành kèm theo thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/2/2012.

xc

Các loại côn trùng

  • cc9
  • ct9
  • ct6
  • ct 5a
  • ct4
  • Ct1
  • k9a
  • k9
  • k8
  • k7
  • k6
  • k5
  • k4
  • k3
  • k2
  • k1
  • nhen
  • bongua
  • bongua
  • kien7
  • kien5
  • dao xuan
  • kien
  • Moilinh1
  • Acromyrmex1
  • kien cat la 1
  • la suong
  • top 5
  • kien cat la
  • ctn 3t bo 12
  • ctn 3t bo2
  • ctn 3t bo 1
  • ctn 3t bo 8
  • ctn 3t BO4
  • ctn2tranh 8
  • ctnew1
  • moitho
  • moichua1
  • moi tho
  • ong bap cay
  • Bo 11
  • CONTRUNGLA
  • K.inchanus
  • hoa va ong
  • contrungla
  • Batterfly
  • Chuon1
  • 1-4
  • ct3
  • chuon chuon trang nau
  • chuon chuon ot
  • Chuon chuon
  • Termite
  • ong1
  • KIENLA
  • kien nam trong nam nho

Tìm hiểu về tác nhân gây hại lâm sản - Nấm

Việt nam nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa điều kiện tư nhiên nóng và ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật trong đó có nhiều sinh vât gây hại cho lâm sản .

 

     Hiện nay, nguồn nguyên liệu gỗ từ rừng tự nhiên có độ bền cao như đinh, lim, sến, táu... hầu như cạn kiệt. Các loại gỗ rừng trồng chủ yếu gồm bạch đàn, keo, thông, mỡ, bồ đề... đang trở thành nguồn nguyên liệu thay thế, đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ của xã hội. Các loại gỗ này có độ bền tự nhiên chống lại sinh vật hại lâm sản thấp, song lại có ưu điểm là chu kỳ khai thác ngắn, dễ thấm các chế phẩm bảo quản. Do đó, áp dụng công nghệ bảo quản có thể khắc phục nhược điểm của gỗ rừng trồng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ. 

    Sinh vật hại lâm sản

Khi cây còn sống, cây có sức đề kháng chống lại những sinh vật hại như côn trùng và nấm. Ngược lại, sau khi chặt hạ, cây đã bị tổn thương cơ giới thì sức đề kháng ấy giảm đi, nên dễ bị sinh vật hại lâm sản xâm nhập gây hại. Các loại lâm sản sau khai thác bị rất nhiều sinh vật phá hại, phương thức xâm nhập và gây hại rất đa dạng, chủng loại rất phong phú, do vậy phương pháp phòng trừ chúng cũng rất khác nhau. Để nhìn nhận một cách khái quát có thể chia sinh vật hại lâm sản làm ba nhóm như sau:

-     Nấm hại lâm sản

-     Côn trùng hại lâm sản

-     Hà hại gỗ.

Nấm hại lâm sản

 

Nấm hại lâm sản là bệnh gây thiệt hại lớn cho sản xuất. Gỗ bị phân hủy các thành phần như lignin hoặc cellulose, làm thay đổi màu sắc gỗ, giảm trọng lượng riêng, giảm khả năng chịu lực và trở thành gỗ mục.Nguyên nhân chủ yếu là do các loại nấm hại. Các sơin nấm luồn sâu vào trong các khe hở của gỗ hoặc nảy mần đâm xuyên vào bề mặt gỗ. Quá trình sinh hóa nấm sẽ tiết rao các loại nấm hại, các sợi nấm luồn sâu vào trong các khe hở của gỗ hoặc nảy mầm đâm xuyên vào bề mặt gỗ, quá trình sinh hóa của nấm sẽ tiết ra các loại  enzim phù hợp để phá hủy cấu trúc hóa học của gỗ 

Dựa vào thành phần hóa học của gỗ bị nấm phân hủy: Chia làm 2 loại

Bệnh mục trắng: Gỗ bị nấm phân hủy lignin chỉ còn lại cellulose nên có màu trắng.

Bệnh mục nâu: Gỗ bị nấm phân hủy cellulose, còn lại lignin cho nên có màu nâu của lignin.

 Dựa vào vị trí mục: chia làm 2 loại
Bệnh mục ngoài: Nấm phá hoại phần gỗ ở phía ngoài (thường là gỗ giác), loại này thường phá hoại cây đã chặt hạ.
Bệnh mục trong: Nấm phá hoại phần gỗ từ tủy ra, loại này thường phá hoại ngay từ khi cây còn sống, hay gặp ở một số loài: Dầu đỏ, Giổi xanh, ...

Theo hệ thống phân loại thực vật thì nấm là thực vật bậc thấp xếp ngang hàng với hệ tảo, nhưng khác với tảo là nấm không có diệp lục tố, nên không tự quang hợp được, mà phải ký sinh trên một giá thể khác để sống.

 

 

Hiện nay, trên thế giới đã ghi nhận có khoảng trên 80.000 loài nấm khác nhau được chia thành các lớp như sau:

-     Lớp Archimycetes             (nấm sơ cấp)

-     Lớp Phycomycetes            (nấm tảo)

-     Lớp Asscomycetes            (nấm túi)

-     Lớp Basidiomycetes          (nấm đảm)

 -    Lớp Deuteromycetes         (nấm bất toàn)

 

                                  
 Deuteromycetes(nấm bất toàn)    Phycomycetes( nấm tảo)
          
Asscomycetes(nấm túi)    Basidiomycetes(nấm đảm)
   
Archimycetes( nấm sơ cấp)    

 

 Ở nước ta sau hoà bình lập lại năm 1954, các Viện nghiên cứu về lâm nghiệp đã điều tra thu thập nhiều tiêu bản các loại nấm hại cây gỗ và hại gỗ tròn sau khi khai thác, nấm hại gỗ và tre ở các công trình xây dựng... Nhưng việc định loại và xác định mức độ nguy hại của những loài gây hại nghiêm trọng thì chưa làm được nhiều. Theo điều tra của Viện Điều tra quy hoạch rừng thì ở miền Bắc Việt Nam cho đến năm 1970 có 100 loài thuộc các họ Polyporaceae, Hydraceae, trong đó có khoảng 25 - 30 loài có tán nấm. Theo Nguyễn Văn Thống (1982) đã phát hiện trên gỗ sau khi chặt hạ và trên bãi gỗ có 55 loài, thuộc 21 chi, 11 họ, 7 bộ của 3 lớp nấm.

 

  Mặc dù nấm rất phong phú về chủng loại, song trong lĩnh vực bảo quản lâm sản, chỉ giới hạn nghiên cứu các đối tượng nấm gây hại lâm sản sau khai thác. Căn cứ vào đặc điểm phát triển tự nhiên của nấm và hình thức phá hoại của chúng có thể phân chia nấm hại lâm sản thành ba nhóm: Nấm gây mục, nấm gây biến màu và mốc. Trong ba nhóm nấm hại lâm sản trên thì nhóm nấm gây mục là quan trọng nhất bởi nhóm nấm này có khả năng phân huỷ vách tế bào và làm thay đổi tính chất cơ lý và hoá học của lâm sản. Nấm gây biến màu và mốc phát triển bằng cách sử dụng các hợp chất hữu cơ dự trữ trong lâm sản làm thức ăn, chúng không ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng không đáng kể đến tính chất cơ lý của lâm sản, nhưng gỗ bị biến màu sẽ bị giảm cấp chất lượng đáng kể.

Cấu tạo  sơ bộ và đặc điểm hình thái của nấm

Tế bào nấm

Cũng như các tế bào thực vật khác, tế bào nấm có cấu tạo bởi 3 phần chủ yếu: Thành tế bào, chất nguyên sinh và nhân tế bào.

Thành tế bào của các loài nấm có độ dày khoảng 0,2µm, có tính phản quang mạnh nên có thể phân biệt rõ ràng ở kính hiển vi quang học. Thành tế bào nấm có cấu tạo bản mỏng và cấu tạo sợi. Ví dụ: ở loài nấm Phycomyces sp., thành tế bào có 3 lớp, lớp ngoài và lớp giữa có cấu tạo bởi 10 - 12 bản mỏng chồng chất lên nhau. Ở loài Neuropora crasa thì thành tế bào lại được cấu tạo bởi các sợi xếp trong một chất nền. Thành phần hoá học của thành tế bào ở hầu hết các loài nấm được cấu tạo bằng kitin. Trong kitin thông thường, lượng đạm chiếm tới 6,9%, nhưng ở kitin của nấm thì lượng đạm rất thấp, như ở nấm Piptoporus betulinus lượng đạm chỉ có 1%. Ngoài kitin, thành tế bào nấm còn chứa các chất như kitosan, manose, protein, lipid, galactose, chất khoáng và các glucid khác...

Chất nguyên sinh của tế bào nấm mức độ nào đó cũng khác với chất nguyên sinh của tế bào thực vật thường xanh. Trong tế bào chứa chủ yếu là chất nguyên sinh, các khoảng gian bào thường nhỏ và không nhiều. Trong chất nguyên sinh không có lạp thể. Chất nguyên sinh là một dung dịch keo, thường trong suốt không màu, luôn luôn chuyển động từ phần sợi nấm già đến phần sợi nấm non, hoặc từ các sợi nấm sinh dưỡng đến các sợi nấm phân hoá làm nhiệm vụ sinh sản (tạo thành các bào tử).

Nhân tế bào nấm nói chung thường rất nhỏ, phần lớn có đường kính 2 - 3µm, hình cầu hoặc hình trứng. Số lượng nhân ở mỗi tế bào không nhất định. Ở các sợi nấm có vách ngăn, số lượng nhân ở mỗi đoạn sợi nấm giữa hai vách ngang có thể 1- 2 nhân, cá biệt có thể hoặc nhiều hơn. Số lượng nhân còn thay đổi theo điều kiện sống.

Thành phần hoá học của tế bào nấm gồm: cacbon (40%), nitơ (7%), hydro (2-3%), còn lại là những nguyên tố khác như lưu huỳnh, phốt pho, kali, magiê, sắt, kẽm, mangan, đồng, canxi... Nói chung, các tế bào nấm ở các sợi sinh dưỡng có lượng nước chiếm tới 90% trọng lượng. Ở một số dạng hình thái đặc biệt, nước có thể ít hơn nhiều, thí dụ ở các hạch nấm hoặc bào tử, nước chỉ chiếm khoảng 15% trọng lượng.

Sợi nấm và hệ sợi nấm

Sợi nấm được cấu tạo từ nhiều tế bào nấm, đó là các sợi mỏng hình trụ dài không phân nhánh hoặc phân nhánh. đường kính sợi nấm thường từ 3- 5µm, nhưng cũng có thể tới 10µm. Sợi nấm rất mỏng, có màu hoặc không có màu. Sợi nấm của các nấm đa bào có dạng vách ngăn thường chỉ có ở những loài nấm sinh ra bào tử. Các sợi nấm vừa phát triển theo chiều dài, vừa phân nhánh và ở sợi ngăn vách vừa tạo thành các vách ngang.

Sợi nấm phát triển từ ống nảy sợi mọc ra từ bào tử. Ống nảy sợi chỉ là một đoạn sợi nấm non, không phân hoá đặc biệt so với các phần khác của sợi nấm, mọc ra trực tiếp từ bào tử. Sự tăng trưởng theo chiều dài của sợi nấm từ ống nảy sợi đến khi sợi nấm ngừng phát triển đều xảy ở phần ngọn sợi nấm. Các đoạn sợi nấm ở sau phần ngọn sợi hoàn toàn không có khả năng phát triển . Tuy nhiên, ở các nhánh sợi nấm đặc biệt mang các cơ quan sinh sản không nhất thiết tuân theo quy luật này, ví dụ như sợi nấm trở thành giá bào tử trần của một số loài nấm mốc có sự tăng trưởng ở gốc.

                


Quá trình hình thành sợi của nấm
Coniophora puteana và Basidiomycestes)

 

 Tốc độ tăng trưởng của sợi nấm (theo chiều dài) thay đổi rất lớn theo từng loài từ 0,02mm/giờ đến 6mm/giờ.

Toàn bộ sợi nấm và các nhánh phát triển từ một bào tử nấm được gọi là hệ sợi nấm. Tuỳ theo cơ chất rắn, lỏng hay mềm, hệ sợi nấm phát triển thành các dạng khác nhau. Trên các vật thể rắn như gỗ, hệ sợi nấm thường rất mỏng, lan rộng. Hệ sợi nấm của các loài nấm đơn bào thường có cấu tạo dạng mạng nhện, còn các loài nấm cấp cao thì hình thành các đám rối khác nhau. Để phân biệt người ta chia các đám rối này thành các dạng khác nhau như dạng màng dạng giây, dạng rễ và dạng rễ có hạch. Trên môi trường nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và trên cả một số cơ chất tự nhiên, hệ sợi nấm của nấm mốc thường phát triển thành một khối có hình dạng nhất định, thường có tiết diện hình tròn hoặc gần tròn gọi là khuẩn lạc.

Quả thể nấm

  Giai đoạn phát triển nổi bật nhất của hệ sợi nấm đa bào là hình thành quả thể (còn gọi là tán nấm). Quả thể là do các sợi thức kết thành búi chặt chẽ. Quả thể nấm được hình thành có thể có cuống dài, ngắn khác nhau tuỳ theo loài, đôi khi không có cuống. Ở lớp nấm đảm Basidiomycetes, phía mặt dưới quả thể hình thành một lớp đặc biệt gọi là thể bào tầng, trong đó chúng hoàn chỉnh thành hình chuỳ và chuyển hoá thành đảm nấm (tán nấm), ví dụ như loài Coniophora merulius. Trên đảm nấm tức tán nấm hình thành các đảm bào tử thường thường có 4 đỉnh và 2 đỉnh trên các cuống, từ các đảm sẽ tạo thành các bào tử đảm. Những loài nấm tạo thành bào tử đảm là những nấm lớn hoặc vi nấm ký sinh, các loài nấm mốc rất hiếm có  khả năng này 

 

         

 

 

 

 

 
 Một số hình dạng quả thể nấm    

   Bào tử

 

Bào tử là các tế bào có hình dạng kích thước khác nhau, có hình vuông hoặc hình tròn, kích thước khoảng 10 µm, khối lượng khoảng 10-11 gam. Bào tử được hình thành ở cuối các sợi nấm, đặc biệt của hệ sợi hoặc trên các sợi biến dạng.

 

Bào tử nấm được tạo thành trong nang kín và chỉ được giải phóng ra ngoài khi nang mở, nứt vỡ hoặc vỏ nang bị phân huỷ được gọi là bào tử kín. Bào tử vô tính được sinh ra ở bên ngoài hoặc ở bên trong các tế bào sinh bào tử và được phát tán không cần đến quá trình mở hoặc vỡ của các tế bào sinh bào tử gọi là bào tử trần.

 

Số lượng bào tử phát tán ra từ một tán nấm Merulius lacrymans Fr trong thời gian một phút có thể khuếch tán tới 6.000 bào tử, trong một ngày tán nấm của Polyporus squamosus có thể khuếch tán 3571 x 106 bào tử (Vanhin 1955). Điều này cho thấy ở bất cứ chỗ nào cũng có bào tử nấm và khả năng lây nhiễm của chúng lên các vật thể là vô cùng lớn. Khi bào tử nấm dính lên bề mặt vật thể, ví dụ như các bào tử nấm hại lâm sản, gặp các điều kiện thuận lợi, bào tử sẽ nảy mầm hình thành sợi nấm xâm nhập vào gỗ và lâm sản. Khi đó gỗ và lâm sản sẽ trởthành giá thể và là nguồn cung cấp thức ăn cho nấm.

 

 Những điều kiện phát triển của nấm

Sự xâm nhiễm và phân huỷ gỗ hay các lâm sản của nấm có mức độ nặng, nhẹ khác nhau, điều ấy phụ thuộc vào bản chất của từng loài nấm, ở từng giai đoạn khác nhau, vào cấu tạo của từng loại gỗ. Song cường độ, tốc độ phân huỷ còn phụ thuộc vào điều kiện sử dụng gỗ hay còn gọi là điều kiện môi trường mà những điều kiện ấy luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhau. Ở điều kiện môi trường thuận lợi nấm sẽ phát triển tốt, ngược lại điều kiện bất lợi nấm sẽ phát triển chậm hoặc ngừng hẳn. Vì vậy, việc nghiên cứu các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của nấm là rất cần thiết trong công tác bảo quản gỗ. Ví dụ: khi biết rằng ẩm độ gỗ có vai trò rất quan trọng để nấm sinh trưởng và phát triển nên con người tạo điều kiện bất lợi một cách nhân tạo làm cho gỗ khô nhanh đạt đến 5 - 10% để nấm ngừng phát triển kể cả nấm làm biến màu gỗ và nấm phá hại xenlulo và linhin.

Độ ẩm gỗ

Đối với mỗi loài nấm cần có một giới hạn ẩm độ thích hợp để nấm sinh trưởng và phát triển tốt trong gỗ nhất là giai đoạn đầu. Căn cứ vào nhu cầu về ẩm độ của nấm, Langendorf đã phân chia các loài nấm gây hại gỗ kiến trúc thành 3 nhóm như sau:

-     Nấm hạ đẳng: gây hại gỗ ở độ ẩm ≈ 80 -100%

-     Nấm mục ướt: gây hại gỗ ở độ ẩm ≈ 30 - 80%

-     Nấm mục khô: gây hại gỗ ở độ ẩm ≈10 - 30%

 Lượng nước do nấm hại xenlulo và linhin tiêu thụ
trong thời gian 3 tháng trên gỗ mẫu nhỏ

C: Đối với nấm phân huỷ xenlulo           L: Đối với nấm phân huỷ linhin

Đối với nấm trong gỗ, nước giúp cho chúng phát triển và phân huỷ gỗ, nhưng nhu cầu về nước ở từng giai đoạn khác nhau thì không giống nhau. Để làm rõ quá trình này người ta cấy nấm hại xenlulo và nấm hại linhin lên các mẫu gỗ đã được làm vụn trong ống nghiệm có để lượng nước ban đầu 100% thì qua 3 tháng chúng đã tiêu thụ một lượng nước được thể hiện trong hình 1.4.

Oxy trong gỗ

Oxy có trong gỗ hay lượng không khí có trong gỗ giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển và phân huỷ gỗ của nhiều loài nấm. Lượng oxy cần nhiều hay ít phụ thuộc vào các loại nấm. Các loài nấm làm biến màu gỗ thì cần độ ẩm cao và lượng oxy ít hơn. Còn các loài nấm hại xenlulo, phá vách tế bào thì cần độ ẩm ít và oxy nhiều hơn. Như vậy, có thể nói nhu cầu về oxy (không khí) và ẩm độ gỗ của nấm là mối quan hệ nghịch. Theo Rypacek (1957) thì tỷ lệ thể tích không khí tối thiểu (%) cần cho sự phát triển của một số loài nấm được thể hiện tại bảng 1.1.

Bảng 1.1. Tỷ lệ thể tích không khí tối thiểu (%) cần cho sự phát triển
của một số loài nấm

Loài nấm

Thể tích không khí tối thiểu (%)

Formes annosus

10

F. fomentarius

15

Trametes gibbosa

10

T. betulina

15

Phellinus igniarius

15

Polyporellus squamosus

10

Paxillus atrotomentosus

10

Piptoporus betulinus

15

Fomes marginatus

10

Schizophyllum commune

20

Trametes versicolor

15

Leptoporus undosus

20

L. stipticus

20

Osmoporus odoratus

15

Gloeophyllum sepiariam

20

Coniophora puteana

15

Nhiệt độ

Đối với mỗi loài nấm có một giới hạn nhiệt độ thích hợp, nhiệt độ ấy ở khoảng 2-5oC đến 35 - 40oC. Quá giới hạn nhiệt độ tối thiểu nấm sẽ phát triển kém hoặc sống ở trạng thái tiềm sinh. Vì vậy trong phòng thí nghiệm người ta giữ giống nấm ở nhiệt độ thấp để nấm sống tiềm sinh không phát triển được. Để nấm trong môi trường nhiệt độ tối đa, nấm sẽ phát triển chậm hoặc bị chết. Để xác định nhiệt độ thích hợp (tối thiểu) của từng loài nấm, người ta thường căn cứ vào sự phát triển độ dài của sợi.

Tốc độ sinh trưởng của một số loài nấm phụ thuộc vào nhiệt độ
(Theo Cartright và Frindlay)

Độ pH

Độ pH là biểu thị tính axit hay tính kiềm của môi trường mà nấm sinh trưởng và phát triển. Mỗi loài nấm thích ứng với một giới hạn pH nhất định. Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng nấm phát triển ở môi trường axit yếu, độ pH khoảng từ 4 - 5,5 nhưng cũng có loài như Chactomium globosum thì độ pH thích hợp là 7,5 - 8 (Liese 1959).

Một đặc điểm đáng lưu ý là nấm có khả năng điều tiết độ pH của môi trường. Ví dụ một thí nghiệm đối với nấm Trametes versicolor đã phát triển được 1 tuần, đem cấy vào các môi trường có độ pH khác nhau lần lượt là 2,4 - 3,55 - 4,6 - 5,8 - 6,65 -7,9 - 8,7 sau 30 phút hoạt động của nấm, độ pH thay đổi là 3,3 - 4,6 - 4,7 - 4,65 - 4,8 - 5,5 - 7,0.

Ánh sáng

Trong quá trình phát triển, nấm không cần ánh sáng trực xạ, kể cả ánh sáng mặt trời vì ánh sáng trực xạ đều ảnh hưởng xấu đến phát triển của nấm, còn với ánh sáng tán xạ làm cho nấm phát triển bình thường. Thí dụ nấm Merulius lacrimans ở trong tối nhiệt độ 200C thì đạt tốc độ dài của sợi là 130 µm/giờ, còn dưới ánh sáng mặt thời chói chang thì nó ngừng phát triển.

Dựa vào điều kiện phát triển của nấm hại lâm sản, người ta có thể chủ động tạo ra điều kiện bất lợi nhân tạo để làm cho nấm ngừng phát triển. Các giải pháp kỹ thuật thường được áp dụng trong sản xuất như hong, sấy gỗ để giảm độ ẩm xuống một giới hạn mà bào tử nấm có tiếp xúc cũng không thể nảy mầm được. Phun nước liên tục hoặc ngâm gỗ xuống nước để độ ẩm gỗ thật cao, lượng oxy trong gỗ thấp sẽ không đủ điều kiện để các loại nấm phát triển.

Sự sinh trưởng, phát triển và gây hại của nấm đối với lâm sản

Nấm mục gây hại lâm sản

Hầu hết các loại gỗ nếu để ngoài trời đều bị nấm mục xâm nhập và gây hại. Sự xâm nhiễm của nấm mục có thể xảy ra khi gỗ còn ở dạng gỗ tròn, gỗ súc, gỗ xẻ xếp đống để hong phơi hoặc lưu giữ trong kho và các sản phẩm gỗ đang trong quá trình sử dụng. Nấm mục ban đầu xâm nhiễm vào gỗ tại các điểm nhỏ trên bề mặt gỗ, tốc độ phát triển và phân huỷ gỗ sẽ phụ thuộc vào các điều kiện phù hợp với từng loài nấm.

Với các đối tượng gỗ sử dụng làm cột cọc, hàng rào, gỗ trụ mỏ, tà vẹt và các hình thức sử dụng gỗ tiếp xúc trực tiếp với nền đất thường bị nấm mục gây hại. Lượng gỗ tổn thất do nấm mục gây ra là rất lớn, bởi trong những điều kiện sử dụng như vậy rất phù hợp cho sự phát triển của nấm mục. Đối với gỗ dùng trong công trình xây dựng, phần gỗ tiếp xúc với nền đất bị nấm mục phân huỷ có thể chỉ chiếm một phần nhỏ, song nếu phải loại bỏ phần gỗ đã bị mục đi thì toàn bộ kết cấu đó có kích thước không phù hợp với mục đích sử dụng.

Khi gặp các điều kiện thuận lợi, nấm mục xâm nhập và phát triển trên bề mặt gỗ hoặc tại các vết nứt trên gỗ. Sợi nấm sẽ phát triển thành hệ sợi, có dạng hình quạt, màu trắng hoặc nâu có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Hệ sợi nấm giữ vai trò như hệ thống rễ của cây. Trong giai đoạn đầu, sợi nấm phát triển sâu vào trong gỗ theo các hướng khác nhau, thường sợi nấm đi từ tế bào này qua tế bào khác bằng cách qua các lỗ do chính sợi nấm tạo ra khi tiếp xúc với vách tế bào gỗ. Các công trình nghiên cứu đã cho biết nấm có khả năng tiết ra enzim làm thủng vách tế bào mà không cần có áp lực cơ học nào. Trong quá trình sợi nấm xâm nhập vào gỗ, không có sự phân huỷ gỗ, do đó chưa làm thay đổi các tính chất của gỗ. Giai đoạn tiếp theo, gỗ chớm bị mục, màu sắc của gỗ sẽ bị thay đổi nhưng rất khó nhận biết và rất dễ bị lẫn với trường hợp gỗ bị biến màu do phản ứng của một số hợp chất hoá học trong gỗ gây ra. Hơn nữa, sự biến màu này thường xuất hiện trên bề mặt gỗ còn tươi hơn là đối với gỗ đã khô. Theo thời gian, sự biến màu trên bề mặt gỗ ngày càng rõ hơn, vách tế bào gỗ bắt đầu bị phân huỷ, gỗ có sự thay đổi đáng kể về màu sắc, cấu trúc và độ bền cơ học. Giai đoạn cuối cùng, gỗ có thể trở nên mục, mềm, xốp, xơ ra, nứt theo vòng năm, rỗng hoặc dễ bở vụn, phụ thuộc vào cách thức phá hoại của mỗi loài nấm.

Gỗ bị mục nát còn có thể là hậu quả của quá trình phá hoại kế tiếp nhau của các loại nấm mục. Các loài nấm có sức phá hại yếu thường xâm nhập trước vào đối tượng gỗ còn tương đối ẩm. Các loại nấm này một mặt sử dụng các chất chứa trong tế bào, một mặt phá vách tế bào nhưng ở mức độ yếu. Chúng không có khả năng phá hại hoàn toàn vách tế bào gỗ, do vậy trong gỗ ngoài sự biến màu còn có hiện tượng mục nhẹ. Tiếp theo, khi độ ẩm của gỗ giảm nhiều, trong tế bào gỗ có nhiều khoảng trống do nước bốc hơi và không khí thay thế, do vậy lượng oxy trong gỗ càng lớn, thuận lợi cho các loài nấm mục có khả năng phá hại mạnh xenlulo và linhin, làm mất hoàn toàn ứng lực cơ học của gỗ và tre nứa.

Với nấm mục, nguồn thức ăn chính cho nhu cầu dinh dưỡng của chúng là chất gỗ (vách tế bào), tuy nhiên các thành phần khác như tinh bột, đường và các chất chứa trong ruột tế bào cũng được nấm chuyển hoá thành thức ăn. Với bản chất tự nhiên, xenlulo và linhin cấu tạo nên vách tế bào gỗ là những phức chất không phù hợp cho nấm hấp thụ. Song do hệ sợi của nấm mục có khả năng tiết ra các enzim làm bẻ gãy vách tế bào thành các hợp chất dinh dưỡng đơn giản, phù hợp cho sự hấp thụ của nấm. Có thể diễn đạt quá trình chuyển hoá gỗ và vai trò của nước và ô xy dưới tác dụng của enzim do sợi nấm tiết ra như sau:

C6H10O5 + H2O    -------->      C6H12O6                                                     (1.1)

C6H12O6 + 6 O2     ------------->         6 CO2 + 6 H2O                                         (1.2)

Qua công thức trên cho thấy rằng trong quá trình hoạt động để phân huỷ gỗ, nấm còn có khả năng tạo ra nước trong gỗ.

Dựa trên phản ứng hoá học với các thành phần hoá học của vách tế bào và kết quả thay đổi màu sắc gỗ do nấm mục gây ra, có hai nhóm nấm gây mục gỗ chính có thể phân biệt được, đó là:

-     Nhóm nấm gây mục trắng: Những loài nấm thuộc nhóm này có thể phân huỷ cả xenlulo và linhin của gỗ, gỗ bị mục thường có màu trắng và có thể quan sát thấy những vệt sọc có kích thước thay đổi trên phần gỗ còn chắc.

-     Nhóm nấm gây mục nâu: Tập trung phá hoại xenlulo, gỗ mục có màu nâu và rất dễ bị bở vụn dưới tác động của ngoại lực.

Ngoài ra còn có một số loài nấm mục có đặc điểm phá hoại gỗ kết hợp giữa đặc điểm của hai nhóm nấm trên.

Mỗi loài nấm mục đều có yêu cầu một ngưỡng độ ẩm nhất định cho quá trình phát triển. Thông thường, độ ẩm gỗ trên điểm bão hoà thớ gỗ là phù hợp nhất cho các loài nấm mục. Khi độ ẩm gỗ trong khoảng 25 - 30%, sự phát triển của nấm chậm lại, và dưới 20% nấm sẽ bị ức chế hoàn toàn. Do đó, gỗ lành nếu được sấy hoặc phơi khô sẽ tránh được sự gây hại của nấm mục, trừ khi gỗ đó bị ướt hoặc để hút ẩm trở lại đạt đến mức độ ẩm phù hợp cho nấm mục xâm nhập và phát triển. Hơn thế nữa, gỗ đã bị nấm mục xâm nhiễm nếu được làm khô đạt độ ẩm dưới 20%, thì sự phát triển của nấm mục cũng bị ngưng trệ hoàn toàn. Khoảng thời gian sợi nấm có thể sống qua trạng thái tiềm sinh dưới điều kiện không khí khô sẽ thay đổi tuỳ theo từng loài nấm, song có trường hợp có thể kéo dài tới hàng năm. Đó là khả năng sợi nấm có thể sống lại khi độ ẩm gỗ đạt tới ngưỡng phù hợp cho sự phát triển của nấm. Đặc điểm này thể hiện rất rõ đối với nấm mục hại gỗ sử dụng trong các công trình xây dựng.

Một số loài nấm mục có nhu cầu về độ ẩm rất thấp còn gọi là nấm mục khô, thường phát hiện thấy tại các nơi có điều kiện khô ráo như nhà máy chế biến gỗ, gỗ trong công trình xây dựng, gỗ xẻ lưu giữ trong các nhà kho... Những loài nấm này cần rất ít hoặc không cần độ ẩm trong quá trình phát triển. Thực tế, nấm mục khô có thể phát triển trên gỗ khô, nhưng chúng khác các loại nấm mục khác là có khả năng chuyển từ các nguồn khác tới các điểm chúng xâm nhập vào gỗ. Những loài nấm này đầu tiên phát triển trong các đống gỗ hoặc trong đất, nơi mà độ ẩm thường cao, sau đó lan rộng ra tới nguồn gỗ khô là đối tượng phá hoại của nấm. Sự dẫn ẩm được thực hiện bằng các đường rất nhỏ giống như sợi nấm, được toả ra trên khắp bề mặt gỗ cũng như bề mặt gạch của tường nhà hoặc nền đá và đi tới phần gỗ lành. Loài nấm phá hoại gỗ nguy hiểm nhất trong các công trình xây dựng đại diện cho nhóm nấm này đó là loài Poria incrassata và một số loài khác thuộc giống Merulius.

Nấm mục thường thấy trong gỗ, tại những vị trí mà độ ẩm dễ được gỗ hấp thụ và rất khó bay hơi. Hai đầu đống gỗ, mặt dưới của đống gỗ, mặt dưới của tà vẹt, phần gỗ chôn dưới đất của các cột cọc, bề mặt cột tiếp giáp với mặt nền trong công trình xây dựng, phần gỗ tiếp giáp với tường nhà... là những nơi nấm mục bắt đầu tấn công.

Không khí là một trong các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nấm mục. Trong điều kiện bình thường, lượng không khí có trong gỗ và xung quanh gỗ rất phong phú. Thậm chí phía trong của cây hoặc trong khúc gỗ lớn còn tươi cũng có thể đủ chứa không khí trong khoang tế bào đủ cho phép nấm phát triển. Các công trình nghiên cứu đã xác định được rằng lượng không khí cần khoảng 20% thể tích của gỗ là có thể đủ điều kiện cho nấm mục phát triển.

Nấm mục cũng có khả năng phát triển trong khoảng nhiệt độ rộng, song chúng thường phát triển nhanh hơn trong giai đoạn thời tiết ấm của năm. Khoảng nhiệt độ thích hợp cho nấm mục là 24 - 32oC. Khi nhiệt độ thấp dưới 24oC, tốc độ phát triển của nấm chậm lại, và ở trạng thái tiềm sinh. Khi nhiệt độ tăng lên nếu cung cấp nhiệt bằng hơi nóng trong một thời gian nhất định sẽ diệt được nấm. Phần lớn các loài nấm mục sẽ ngừng phát triển ở nhiệt độ 40oC.

Nấm mục duy trì nòi giống bằng các bào tử được sinh ra với số lượng rất lớn trong các quả thể. Quả thể thường xuất hiện trên bề mặt của gỗ đã bị mục. Quả thể của các loài nấm mục rất khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc, cấu trúc... đây cũng là một trong các căn cứ để nhận biết loài nấm gây hại.

Nấm mục cũng có thể phát sinh và phát triển không cần bào tử mà bằng cách mọc trực tiếp các sợi nấm từ đất, từ gỗ đã mục sang gỗ lành nếu để tiếp xúc với nó. Trường hợp này thường xảy ra trong đống gỗ hong phơi khô, khi gỗ còn tươi, gỗ xẻ hoặc các sản phẩm gỗ được xếp đống trên các thanh kê đã bị nhiễm nấm mục. Sợi nấm có thể phát triển trên bề mặt gỗ và lan rộng vào trong gỗ.

  Nấm gây biến màu

Nhóm nấm thứ hai gây hại lâm sản, chúng có thể gây nên sự biến màu gỗ và lâm sản ở biên độ màu rất rộng, chúng gây biến màu ở cả gỗ xẻ cũng như các sản phẩm lâm sản. Đánh giá theo góc độ kinh tế, trong nhóm nấm này, thì những loài nấm gây biến màu xanh (blue stain) đối với phần gỗ giác của các loại gỗ là quan trọng nhất, bởi chúng có mức độ gây hại phổ biến hơn cả. Phần gỗ lõi thường không bị nấm gây biến màu. Các loài nấm gây biến màu ít nghiêm trọng hơn đó là các loài nấm gây biến màu gỗ ra màu ô liu, nâu vàng, lục vàng và một số màu từ hồng, đỏ, nâu đến đen.

Những loài nấm gây biến màu xâm nhập vào gỗ, thức ăn của chúng là các chất dinh dưỡng được tích trữ trong các tế bào ở phần gỗ giác. Để đi từ tế bào này sang tế bào khác, sợi nấm tìm đến các lỗ thông ngang trên vách tế bào, đặc biệt là ở các tia gỗ, nơi tập trung nhiều chất dinh dưỡng và vách tế bào rất dễ bị xuyên qua. Màu hơi xanh đến xanh đen hoặc nâu trên gỗ bị nấm biến màu xâm nhập là do sự tập trung nhiều sợi nấm màu tối trên nền sáng của gỗ.

Mặc dù nấm biến màu gỗ không gây ra sự phân huỷ vách tế bào, do đó không làm giảm tính chất cơ học của gỗ,  bị biến màu sẽ  giảm cấp chất lượng,  giá trị kinh tế một cách đáng kể.

Đối với các loài nấm gây biến màu, bào tử nấm giữ vai trò duy trì giống và phát tán. Bào tử được sinh ra trong các quả thể rất nhỏ và nằm trên bề mặt gỗ đã bị biến màu. Quả thể này nếu nhìn thấy bằng mắt thường, chúng như những hạt nhỏ màu đen, nhưng nhìn dưới kính lúp, chúng có các lông màu đen và phần phía dưới hơi phình ra.

Nấm gây biến màu thường xâm nhập vào gỗ giác của các loại gỗ có độ bền tự nhiên thấp ở các giai đoạn khác nhau: gỗ trong các xưởng chế biến, trong quá trình vận chuyển, lưu giữ trong kho và thậm chí với cả các sản phẩm gỗ. Khi độ ẩm, không khí trong gỗ và nhiệt độ môi trường phù hợp, nấm gây biến màu có thể phát triển ở cả gỗ khúc và cây đứng. Trong trường hợp này, nấm biến màu thường xâm nhiễm vào gỗ qua đường hang của côn trùng cánh cứng.

Độ ẩm gỗ lớn hơn 20% và một lượng nhỏ không khí trong gỗ là điều kiện cần thiết cho nấm gây biến màu phát triển. Sự xâm nhiễm của nhóm nấm này có thể bị ngăn chặn bằng cách làm khô nhanh bề mặt gỗ hoặc giữ gỗ trong điều kiện tưới ướt liên tục. Khoảng nhiệt độ tốt nhất cho nấm gây biến màu phát triển là 24 - 35oC, sự phát triển của nấm sẽ dừng lại nếu nhiệt độ dưới 7oC và trên 38oC. Nếu giữ nhiệt độ 55oC trong khoảng thời gian dài thì nấm sẽ chết.

Khi gỗ khúc và gỗ xẻ còn tươi nếu không được kê xếp phù hợp thì nấm gây biến màu sẽ xâm nhập và phát triển nhanh chóng. Đầu tiên nấm xuất hiện như những đốm nhỏ trên bề mặt hoặc ở đầu khúc gỗ, sau đó sẽ phát triển nhanh chóng ăn sâu vào toàn bộ phần gỗ giác. Trong điều kiện thời tiết ấm và độ ẩm không khí cao thì phần gỗ giác còn tươi sẽ bị nấm gây biến màu chỉ trong 2 - 3 ngày ngay sau khi cưa xẻ.

 Gỗ xẻ bị nấm gây biến màu

Nấm mốc

Những loài nấm mốc phát triển trên bề mặt gỗ hoàn toàn giống như dạng mốc phát triển trên bánh mỳ hoặc các loại thực phẩm khác, chúng mọc như bông trên bề mặt gỗ với các màu sắc khác nhau như màu trắng, các màu sáng khác đến màu đen. Sự khởi đầu và phát triển của các loài nấm mốc cũng phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, ví dụ như trong trường hợp gỗ tươi được xếp đống không đảm bảo điều kiện thoát ẩm. Gỗ xẻ tươi còn có thể bị mốc trong quá trình vận chuyển, đặc biệt trong điều kiện thời tiết ấm và ẩm. Ngay cả khi gỗ trong lò sấy, với thời gian sấy dài, điều kiện độ ẩm cao, nhiệt độ dưới 55oC, nấm mốc vẫn có thể phát triển ở những khu vực mà không khí đi qua đống gỗ bị cản trở. Sự thông gió một cách hợp lý đối với gỗ xẻ tươi trong kho hoặc trong quá trình vận chuyển sẽ phòng chống được sự phát triển của mốc. Trong các lò sấy, mốc sẽ bị tiêu diệt bằng hơi nước nhiệt độ 77oC trong thời gian 1 giờ.

Hệ sợi của nấm mốc không phát triển sâu được vào bên trong gỗ mà chỉ phát triển trên bề mặt gỗ nên có thể dễ dàng quét hoặc lau đi. Mốc không ảnh hưởng đến tính chất cơ lý của gỗ song nó ảnh hưởng đến màu sắc bề mặt gỗ. Mốc cũng trở thành vấn đề nghiêm trọng trong kho, bởi khi gỗ làm thùng đựng hàng bị mốc sẽ làm lây nhiễm mốc sang các loại thực phẩm chứa trong đó hoặc nấm mốc có khả năng gây dị ứng đối với da hoặc hô hấp đối với người khi tiếp xúc với nấm mốc.

  
Theo tài liệu : en.wikipedia.org; ipmimages.org; Tài liệu của TS Nguyễn Chí Thanh; TS Lê Văn Nông; Trường ĐH LN