Địa chỉ : Số 118 - Tổ 9 K3 - Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội. Tel: 04 2245 0069 - Fax : 043 763 2942 - Hotline: 0982 530 567
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc

Tìm kiếm

Ngôn ngữ: Vietnam English

Hỗ trợ trực tuyến

Quảng cáo

Kiến thức

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM  thuốc BVTV 2013

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM thuốc BVTV 2013

Thông tư Số 21 /2013/TT-BNNPTNT ngày 17 thang 4 năm 2013 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và Danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam

xc

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Tập định mức đơn giá phòng trừ mối trong công trình xây dựng và xử lý côn trùng gây hại ban hành kèm theo Quyết định số: 20QĐ/TWH ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam.

xc

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản) được phép sử dụng, hạn chế tại VIệt Nam năm 2012

xc

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc BVTV 2012 được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, và cấm sử dụng tại Việt Nam năm 2012 ban hành kèm theo thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/2/2012.

xc

Các loại côn trùng

  • cc9
  • ct9
  • ct6
  • ct 5a
  • ct4
  • Ct1
  • k9a
  • k9
  • k8
  • k7
  • k6
  • k5
  • k4
  • k3
  • k2
  • k1
  • nhen
  • bongua
  • bongua
  • kien7
  • kien5
  • dao xuan
  • kien
  • Moilinh1
  • Acromyrmex1
  • kien cat la 1
  • la suong
  • top 5
  • kien cat la
  • ctn 3t bo 12
  • ctn 3t bo2
  • ctn 3t bo 1
  • ctn 3t bo 8
  • ctn 3t BO4
  • ctn2tranh 8
  • ctnew1
  • moitho
  • moichua1
  • moi tho
  • ong bap cay
  • Bo 11
  • CONTRUNGLA
  • K.inchanus
  • hoa va ong
  • contrungla
  • Batterfly
  • Chuon1
  • 1-4
  • ct3
  • chuon chuon trang nau
  • chuon chuon ot
  • Chuon chuon
  • Termite
  • ong1
  • KIENLA
  • kien nam trong nam nho

Côn trùng hại lâm sản thuộc bộ cánh cứng(Coleoptera)

Côn trùng hại lâm sản được hiểu theo nghĩa rộng vì chúng không những hại gỗ mà còn hại tre, nứa, song, mây, còn hiểu theo nghĩa hẹp là côn trùng hại gỗ. Côn trùng hại gỗ bao gồm rất nhiều loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) mà nhân dân thường gọi là cánh cứng hại gỗ hay mọt hại gỗ

 

 Côn trùng cánh cứng hại gỗ (Mọt hại gỗ)

 Vị trí và phân loại

Côn trùng cánh cứng hại gỗ hay lâm sản cũng có khi gọi là Mọt gỗ thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, chúng tấn công gây hại đối với gỗ và các lâm sản khác gây ra thiệt hại lớn cho ngành khai thác, chế biến và sử dụng gỗ. Mọt hại gỗ là một khái niệm rất chung chung để chỉ một nhóm côn trùng hại gỗ thuộc bộ cánh cứng Coleoptera gồm rất nhiều loài, giống và họ, mà không chỉ một loài cụ thể nào. Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có hàng ngàn loài, mức độ phá hại của từng loài cũng khác nhau.

Vị trí phân loại đối với mọt hại gỗ có thể phân chia theo hệ thống thông thường sau đây:

Lớp côn trùng                            Insecta

Lớp phụ có cánh                        Pterygota

Bộ cánh cứng                             Coleoptera

1. Họ mọt gỗ                      Anobiidae

2. Họ mọt dài                      Bostrychidae

3. Họ cát đinh                     Buprestidae

4. Họ xén tóc                      Cerambycidae

5. Họ vòi voi                       Curculionidae

6. Họ bổ củi                        Elateridae

7. Họ mọt phấn (cám)        Lyctidae

8. Họ mọt chân dài             Platypodidae

9. Họ mọt gỗ và vỏ gỗ        Scolytidae.

Trong mỗi họ có thể phân chia ra hai hoặc nhiều phân họ khác nhau. Trong 9 họ cánh cứng hại gỗ hay còn gọi là mọt gỗ kể trên sẽ được giới thiệu kỹ hơn đối với các họ: Anobiidae, Bostrychidae, Cerambycidae, Lyctidae, Platypodidae và Scolytidae,

về đặc điểm hìnht hái côn trùng cánh cứng hại gỗ(Cloleoptera) trưởng thành chia làm 3 phần chính : Đầu, Ngực,và bụng

- Đầu gồm có miệng, râu đầu, mắt kép.

- Ngực có 3 đốt: Ngực trước, ngực giữa và ngực sau. Mỗi đốt ngực có một đôi chân: chân trước, chân giữa và chân sau. Mặt lưng của đốt ngực giữa mang một đôi cánh cứng và mặt lưng của đốt ngực sau mang đôi cánh màng. Khi không bay thì hai đôi cánh này xếp trên lưng, cánh màng xếp bên trong, cánh cứng xếp bên ngoài.

- Bụng : Thường có 7 đốt, bên trong có cơ quan tiêu hoá, sinh sản, các lỗ thở ở hai bên các đốt bụng.

Sâu non (ấu trùng) cánh cứng màu trắng sữa gồm có đầu, ngực và bụng. Sâu non các họ Bostrychidae, AnobiidaeLyctidae thì có ba đôi chân ngực khoẻ và không có chân bụng, còn sâu non các họ Scolytidae, Platypodidae và Cerambycidae thì không có chân ngực và cũng không có cả chân bụng.

Nhộng trần, màu trắng sữa. Biến thái hoàn toàn, gồm có 4 giai đoạn (pha) trứng, sâu non, nhộng và cánh cứng trưởng thành, sinh sản theo phương thức lưỡng tính (đực và cái), hô hấp bằng hệ thống khí quản.

Danh sách các loài côn trùng cánh cứng hại gỗ (Coleoptera)
đã được phát hiện ở Việt Nam

TT

Tên loài côn trùng cánh cứng hại gỗ (Coleoptera)

Họ côn trùng

 

A. Nhóm côn trùng hại vỏ cây (Phloeophagy)

 

1

Cryphalus artocarpus Schedl

Scolytidae

2

Cryphalus indicus Eichh

--

3

Ips caudatulus Schedl

--

4

Ips perexiguus Schedl

--

5

Hypothenemus eruditus West

--

6

Hylesinus despectus Walk

--

 

B. Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (Xylophagy)

hay côn trùng hại gỗ khô

 

7

Lyctus brunneus Steph

Lyctidae

8

Lyctoxylon convictor Lesne

--

9

Minthea rugicollis Walk

--

10

Dinoderus brevis Horn

Bostrychidae

11

Dinoderus distinctus Lesne

--

12

Dinoderus minutus F.

--

13

Xylothrips flavipes Ill

--

14

Heterobostrychus aequalis Wat

--

15

Heterobostrychus hamatipennis Lesne

--

16

Heterobostrychus pileatus Lesne

--

17

Heterobostrychus unicornic Wat

--

18

Xylopsocus capucinus F.

--

19

Xylopsocus radula Lesne

--

20

Xylodectes ornatus Lesne

--

21

Xylodectes venustus Lesne

--

22

Sinoxylon anale Lesne

--

23

Sinoxylon cucumella Lesne

--

24

Sinoxylon tignarium Lesne

--

25

Sinoxylon flabrarium Lesne

--

26

Sinoxylon crassum Lesne

--

27

Sinoxylon mareseuli Lesne

--

28

Micrapata simplicipennis Lesne

--

29

Bostrychopsis parallela Lesne

--

30

Stegobium paniceum L.

Anobiidae

31

Batocera rubus L.

Cerambycidae

32

Euryphagus lundii F.

--

33

Chlorophorus annularis F. (hại tre nứa)

--

34

Stromatium longicorne Newm

--

 

C. Nhóm côn trùng hại gỗ tươi (xylo-mycetophagy)

 

35

Crossotarsus externedentatus Fairm

Platypodidae

36

Crossotarsus lecontei Chap

--

37

Crossotarsus squamulatus Chap

--

38

Crossotarsus vietnamensis Le

--

39

Crossotarsus wallacei Thoms

--

40

Periommatus nghetinhensis Le

--

41

Carchesiopygus impariporus Bees

--

42

Carchesiopygus wollastoni Chap

--

43

Diapus aculeatus Blandf

--

44

Diapus pusillimus Chap

--

45

Diapus quinquespinatus Chap

--

46

Platypus bacthaiensis Le

--

47

Platypus caliculus Chap

--

48

Platypus cavus Strohm

--

49

Platypus cordiger Chap

--

50

Platypus cupulatus Chap

--

51

Platypus curtus Chap

--

52

Platypus decens Samps

--

53

Platypus forficula Chap

--

54

Platypus pseudocupulatus Schedl

--

55

Platypus pseudosolidus Le

--

56

Platypus secretus Samps

--

57

Platypus sexporus Schedl

--

58

Platypus solidus Walk

--

59

Platypus verunulatus Bees

--

60

Xyleborus artestriatus Eichh

Scolytidae

61

Xyleborus gravidus Blandf

--

62

Xyleborus cognatus Bandf

--

63

Xyleborus dosuarius Egg

--

64

Xyleborus granulipennis Egg

--

65

Xyleborus haberkoni Egg

--

66

Xyleborus indicus Eichh

--

67

Xyleborus interjectus Blandf

--

68

Xyleborus morstatti Hagedor

--

69

Xyleborus morigerus Blandf

--

70

Xyleborus opalescens Schedl

--

71

Xyleborus semiopacus Eichh

--

72

Xyleborus similis Ferr

--

73

Xyleborus tegalensis Egg

--

74

Xyleborus testudo Egg

--

75

Xyleborus wallacei Blandf

--

76

Scolytoplatypus raja Blandf

--

77

Scolytoplatypus entemoides Blandf

--

78

Scolytoplatypus sija Blandf

--

79

Dactylipalpus transversus Chap

--

 

            
Họ Bostrychoidea Họ Lyctidae
 
Họ Anobiidae Họ Scolytidea
 
Họ Platypodidae Họ Cerambvcidae

Những đặc trưng hình thái bên ngoài các họ côn trùng cánh cứng (Coleoptera) hại gỗ
được phát hiện ở Việt 
Nam (Lê Văn Nông 1999)

Sự phân chia các nhóm côn trùng hại gỗ

Côn trùng hại gỗ ở Việt Nam phong phú về chủng loại, bao gồm nhiều họ, giống, loài, đặc tính sinh học giữa các loài trong nhóm côn trùng hại gỗ cũng rất khác nhau, có loài như Xyleborus semiopacus Eichh, Scolytoplatypus raja Blandf thì chỉ xâm nhập vào cây gỗ mới chặt hạ, độ ẩm gỗ còn cao mà không bao giờ phá hại gỗ đã khô, kể cả ván dán, giường tủ trong gia đình. Ngược lại, có những loài côn trùng hại gỗ khô như Lyctus brunneus Steph và mối gỗ khô Cryptotermes domesticus Haviland thì chỉ phá hại gỗ khô, giường tủ, bàn ghế dụng cụ trong gia đình mà không hại gỗ tươi. Bên cạnh những loài côn trùng hại gỗ kể trên lại có những loài côn trùng chỉ phá hại vỏ cây, mà trong cuộc sống của những loài côn trùng này từ giai đoạn trứng, sâu non, nhộng và sâu trưởng thành chỉ sống ở trong vỏ cây mà không bao giờ đào hang trong gỗ. Do đặc tính sinh học của các loài côn trùng hại gỗ phong phú như vậy, cho nên việc phân nhóm côn trùng hại gỗ là việc rất cần thiết làm tiền đề cho phương pháp phòng trừ chúng sau này có hiệu quả hơn.

Khi nghiên cứu về côn trùng hại gỗ ở châu Phi, Schedl (1958, 1960, 1961...) đã căn cứ vào nơi sống và phương thức lấy thức ăn của côn trùng hại gỗ sau khi khai thác để phân chia côn trùng hại gỗ ra làm 3 nhóm chính, mà đặc tính sinh học giữa các nhóm này khác nhau rất rõ ràng.

-     Nhóm côn trùng hại vỏ cây (Phloeophagy)

-     Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (gỗ khô) Xylophagy

-     Nhóm côn trùng hại gỗ tươi (Xylo- mycetophagy).

 Nhóm côn trùng hại vỏ cây (Phloeophagy

Trong 3 nhóm côn trùng nói trên thì nhóm thứ nhất côn trùng hại vỏ cây (Phloeophagy) tác hại của chúng gây ra đối với ngành khai thác gỗ ở nước ta không lớn lắm, chúng thường phá hại những cây lá kim mà trước đó bị sâu ăn lá phá hại. Đối với cây gỗ sau khi chặt hạ mà bị côn trùng hại vỏ cây xâm nhập thì cách tốt nhất là đem bóc vỏ cây đi là có thể diệt được chúng còn đối với những cây cần giữ lại vỏ dùng làm gỗ bóc hay gỗ lạng trong công nghiệp thì khi đó sẽ dùng hoá chất để xử lý chống các loài côn trùng xâm nhập, bảo vệ gỗ.


c

 

 Đường hang mọt hại vỏ cây

1. Đơn thê (ngang)                 2. Đơn thê (dọc)         3. Đa thê (dọc)

Đường hang mọt hại gỗ tươi (Schedl 1961
1.đường hang không phình ra;  
2. Đường hang phinh ra phía trong không có màu đen

  Nhóm côn trùng hại gỗ tươi (Xylo- mycetophagy)

1

 
Đặc tính sinh vật học nổi bật nhất của nhóm côn trùng này là chỉ xâm nhập vào gỗ còn tươi, độ ẩm gỗ cao.

Đặc tính thứ 2 cũng vô cùng quan trọng đối với nhóm mọt gỗ này là trong quá trình xâm nhập vào gỗ, mọt trưởng thành mang sẵn trên cơ thể chúng những bào tử nấm và cấy vào trong hang mà chúng mới đào, bào tử nấm này nẩy mầm và phát triển thành sợi nấm rất nhanh trong cây gỗ tươi, nên đường hang mọt thường có màu đen (hình 1.13), trong sợi nấm có chứa chất protein, chất protein này, là thức ăn chính của mọt gỗ. Gỗ bị mọt gỗ tươi này phá hại khi đem chế biến và hong, phơi, sấy làm độ ẩm của gỗ giảm xuống nhanh chóng 12 - 20% thì ở độ ẩm này nấm làm thức ăn của mọt không sống được, mọt không có thức ăn sẽ chết. Căn cứ vào đặc tính sinh học này, những người làm công tác bảo quản đã đề ra phương pháp bảo quản gỗ một cách hiệu quả. Để ngăn ngừa mọt gỗ tươi và nấm gỗ tươi xâm nhập vào gỗ tốt nhất là vận xuất vận chuyển gỗ sau khi khai thác ra khỏi rừng càng nhanh càng tốt và đưa về nhà máy chế biến gỗ và chế biến ngay, sau đó hong phơi, sấy để đưa độ ẩm gỗ về độ ẩm theo yêu cầu sản xuất 12- 20%. ở ẩm độ này, nhóm mọt gỗ tươi không xâm nhập được vào gỗ để phá hại, như vậy khống chế độ ẩm nhân tạo đã ngăn ngừa mọt gỗ tươi phá hại mà không cần phải xử lý hoá chất.

Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (Xylophagy) hay côn trùng hại gỗ khô

Hai nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (Xylophagy) và côn trùng hại gỗ tươi (Xylomycetophagy) là gây hại đến ngành khai thác, chế biến và sử dụng gỗ ở nước ta.

Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp (Xylophagy) được phát hiện trong gỗ đã khô như cột nhà, xà nhà, khuôn cửa, giường tủ, gỗ có độ ẩm từ 12 - 20%. Trên thực tế cũng có những loài côn trùng hại gỗ khi chúng xâm nhập vào gỗ khi độ ẩm của gỗ còn cao và chúng ăn lớp vỏ cây, sau đó qua một số lần lột xác sâu non của chúng đục xuyên vào trong tâm gỗ, lúc này độ ẩm gỗ đã giảm, những loài này cũng được xếp vào nhóm hại gỗ trực tiếp.

Đối với những loài côn trùng hại gỗ trực tiếp thì trong cơ quan tiêu hoá của chúng có những vi sinh vật hoặc những tế bào đặc biệt giúp cho quá trình tiêu hoá gỗ và linhin (Schedl, 1956). Một số loài côn trùng hại gỗ trực tiếp điển hình là:

- Mọt gỗ trám               Xylothrips flavipes Ill

- Mọt 2 sừng                 Heterobostrychus hamatipennis Lesne

- Xén tóc gỗ khô          Stromatium longicorne Newm

- Mọt cám nâu              Lyctus brunneus Steph.

Những côn trùng thuộc nhóm hại gỗ trực tiếp này thường phá hại gỗ đã khô, để ngăn ngừa nhóm mọt hại gỗ này biện pháp tốt nhất là phải xử lý gỗ bằng hoá chất trước khi đưa vào sử dụng(sẽ nói kỹ ở phần sau).

Những điều kiện để côn trùng cánh cứng hại gỗ xâm nhập vào gỗ và phá hại

 Đối với nhóm côn trùng hại vỏ cây

Điều kiện đầu tiên để những côn trùng trong nhóm này có thể xâm nhập vào vỏ cây là cây gỗ đó phải còn vỏ tươi ẩm độ thích hợp với loài mọt này, bóc vỏ cây đi thì côn trùng không xâm nhập vào được, nhóm côn trùng hại vỏ cây, có các loài sau đây đã được phát hiện ở miền Bắc Việt Nam:

- Cryphalus artocarpus Schedl.

- Cryphalus indicus Eichhff

- Ips caudatulus Schedl.

- Ips perexiguus Blandf

- Hylesinus despectus Walker.

Đối với nhóm côn trùng hại gỗ tươi

Những loài côn trùng nhóm này thường xâm nhập vào những cây gỗ sinh trưởng yếu, nhất là những cây gỗ sau khi chặt hạ, độ ẩm gỗ ở thời điểm mọt xâm nhập lớn hơn 40%, với độ ẩm này các loài nấm làm thức ăn cho mọt mới sinh trưởng và phát triển. Đối với gỗ đã được làm khô một lần và sau đó làm ẩm trở lại trên 40% thì những loài mọt ở nhóm côn trùng hại gỗ tươi cũng không xâm nhập và phá hại. Những côn trùng hại gỗ tươi thường được phát hiện ở nước ta như: Xyleborus semiopacus, Platypus solilus, Crossotarsus externedentatus, Diapus quinquespinatus...

 Đối với côn trùng hại gỗ trực tiếp hay hại gỗ khô

Trong nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp thì tuỳ theo từng họ côn trùng khác nhau mà điều kiện xâm nhập của chúng khác nhau.

Điều kiện để cho họ mọt Lyctidae có thể xâm nhập vào gỗ là trong gỗ phải có ≥ 5% lượng tinh bột, vì với lượng tinh bột này mới đủ khả năng nuôi dưỡng sâu non của mọt Lyctidae sau này.

Điều kiện thứ 2 không kém phần quan trọng là gỗ phải có trực kính trung bình mạch gỗ ( > 70 μm thì con cái mới có thể luồn máng đẻ trứng vào trong mạch gỗ để đẻ trứng được.

Đối với họ mọt dài Bostrychidae xâm nhập được vào gỗ với điều kiện như họ Lyctidae có nghĩa là trong gỗ phải có một lượng tinh bột ≥ 5% để nuôi sống sâu non của mọt sau này. Điều kiện thứ 2 để mọt cái đẻ trứng vào gỗ là trực kính mạch gỗ trung bình  > 150 μm thì mọt cái mới luồn máng đẻ trứng vào mạch gỗ mà đẻ trứng. Mọt cái trước khi đẻ trứng phải đào một đường hang mẹ, sau đó chúng ghép đôi và đẻ trứng vào những mạch gỗ thích hợp đã lộ ra trên vách hang mà chúng đã đào.

Đối với xén tóc gỗ khô Stromatium longicorne Newm, thì chúng đẻ trứng vào các khe nứt của gỗ hoặc khe nứt của các mối ghép mộng.

 Những côn trùng cánh cứng hại gỗ thường được phát hiện ở Việt Nam

Theo tài liệu điều tra chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có 79 loài mọt cánh cứng hại gỗ được ghi nhận trong nhóm như sau:

- Nhóm côn trùng hại vỏ cây có 6 loài.

- Nhóm côn trùng hại gỗ trực tiếp hay côn trùng hại gỗ khô 28 loài.

- Nhóm côn trùng hại gỗ tươi 45 loài.

Ở nước ta có nhiều loài cánh cứng hại gỗ, thuộc nhiều họ khác nhau trong đó có 6 họ: Anobiidae, Bostrychidae, Cerambycidae, Lyctidae, Platypodidae Scolytidae là có nhiều loài phá hại gỗ nghiêm trọng. Trong mỗi họ sẽ mô tả một số loài hại gỗ nghiêm trọng điển hình:

 Mọt cánh nhọn Platypus solidus Walk thuộc họ Platypodidae (mọt gỗ tươi)

 Phân bố:

- Trong nước: Những nơi có khai thác gỗ là có sự xâm nhập của loài mọt này.

- Ngoài nước: Australia, vùng Đông Phương.

* Hình thái: 

Mọt trưởng thành dài 4,7 - 5 mm, có màu nâu càng về cuối cánh cứng có màu thẫm hơn. Râu đầu hình chuỳ có 6 đốt, đốt thứ nhất to, đốt 2,3,4,5 nhỏ xếp liền nhau, đốt thứ 6 to có hình giống quả táo, dẹt và phủ một lớp lông màu vàng, con đực màu thẫm hơn con cái, cuối cánh cứng của con đực nhỏ lại và kết thúc bởi 2 gai, gai gần đường phân cánh to và hơi tù ở đầu, gai ở bên ngoài nhỏ hơn, ngắn hơn và nhọn hơn nhưng không dài bằng gai ở gần đường phân cánh. Con cái màu vàng nhạt, cuối cánh cứng hơn tròn không thu hẹp lại như con đực. Bàn chân con đực cũng như con cái rất dài có 5 đốt, đốt thứ nhất dài bằng đốt 2,3 và 4 hợp lại, đốt thứ tư không phân thuỳ.

Sâu non màu trắng sữa, không có chân ngực và chân bụng. Nhộng trần màu trắng sữa.

 

               
Mọt cánh nhọn
Platypus solidus (♀♂)
  Mọt cánh lõm
Platypus cupulatus (♀♂)


* Sinh học: Mọt trưởng thành hoạt động chủ yếu vào ban đêm, ban ngày hoạt động ở những bãi gỗ có tán che ở trong rừng, ít có ánh sáng trực xạ chỉ có ánh sáng tán xạ. Loài Platypus solidus chỉ phá hại gỗ tươi mới chặt hạ, sâu non sống chủ yếu bằng những sợi nấm mà mọt trưởng thành đã mang bào tử vào cấy ở trong hang. Mọt P. solidus không bao giờ phá hại gỗ khô, hoặc dụng cụ bằng gỗ có trong gia đình, chúng là một trong những loài mọt trong họ Platypodidae hại gỗ ở rừng mưa nhiệt đới điển hình, ở đồng bằng không có sự phân bố của loài này.

Gỗ ký chủ của mọt cánh nhọn gồm: sau sau, vạng trứng, bứa, sung, máu chó lá to, máu chó lá nhỏ, trám đen, trám trắng, trám hồng, ràng ràng, ngát,..

 Phòng trừ: giống như các loài trong họ Platypodidae hại gỗ tươi khác.

 Mọt gỗ trám: Xyleborus semiopacus Eichh thuộc họ Scolytidae (mọt gỗ tươi)

 Phân bố:

- Trong nước: Phân bố rất rộng, ở những nơi có rừng tự nhiên, sau khi khai thác gỗ đều phát hiện thấy loài này.

- Ngoài nước: Châu Phi (Nam Sahara), Madagascar, Ấn Độ - Malaysia (từ Xrylanca đến Nhật Bản), New Guinea.

Hình thái 

Con cái thân dài 2,2 - 2,3 mm có màu nâu thẫm, thân phủ một lớp lông màu vàng. Tấm lưng ngực trước phủ kín đầu, phần trước tấm lưng ngực trước có nhiều nếp nhăn, càng về sau càng nhỏ. Cánh cứng có màu thẫm hơn, và về phía cuối thì dần dần cụp xuống, phủ hết bụng.

Con đực nhỏ hơn con cái rất nhiều, không vũ hoá, không bay ra khỏi tổ, sau khi giao phối với con cái, thì con đực chết ngay trong hang mà mọt mẹ đã đào sẵn cho chúng sống, chỉ có con cái bay ra ngoài đào hang mới. Sâu non hình chữ C màu trắng sữa và không có chân ngực, nhộng trần màu trắng sữa.

          
Mọt gỗ tươi họ Scolytidae
1. Mọt trưởng thành Xyleborus testudo (từ trên)
2. Mọt trưởng thành Xyleborus testudo (nghiêng)
3. Râu đầu
4. Đốt chầy và đốt bàn chân
  Mọt gỗ tươi
Scolytidae Xyleborus semiopacus (♀)

 * Sinh học: Mỗi năm có 5- 6 thế hệ, mọt trưởng thành hoạt động từ tháng 3 đến tháng 8 các tháng khác hoạt động yếu hơn. Sâu non sống bằng sợi nấm mà mọt trưởng thành đã đem cấy vào trong hang mọt mẹ. Đường hang mọt mẹ có màu đen do nấm làm biến màu, chiều sâu của hang từ 1,5-2,5 cm cuối đường hang phình to ra, trong hang có mọt trưởng thành, trứng, sâu non, nhộng.

 Gỗ ký chủ: Trám trắng, sau sau, vạng trứng, lim xẹt, lim xanh, ràng ràng, máu chó lá to, máu chó lá nhỏ. Đây là một loài mọt phá hại gỗ tươi ở rừng mưa nhiệt đới điển hình, không bao giờ phá hại gỗ khô, đồ gỗ trong gia đình.

 Phòng trừ: giống như các loại gỗ tươi khác trong họ Platypodidae và Scolytidae khác.

 Mọt tre: Dinoderus minutus F. thuộc họ Bostrychidae 

Phân bố:

- Trong nước: ở Việt Nam, loài này phân bố rất rộng, từ đồng bằng ven biển đến miền núi, nói một cách khác là nơi nào có trồng tre nứa thì ở đó có sự phân bố loài Dinoderus minutus F.

- Ngoài nước: ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, nhất là vùng Ấn Độ - Malaysia, châu Phi, do kiểm dịch từ trước đến nay chưa tốt, nên loài này còn được phát hiện ở châu Âu.

 Hình thái:

Mọt trưởng thành có màu nâu hồng hoặc màu nâu đen dài từ 2,0 - 3,4 mm, rộng 1- 1,2mm, vùng lưng cánh có màu nâu hoặc phớt hồng. Môi trên, xúc biện hàm dưới, và môi dưới, đốt bàn chân có màu vàng, râu đầu có 11 đốt, bề mặt có lông thưa, vàng, 3 đốt chuỳ râu to hơn hẳn các đốt khác và có lông màu vàng, ngắn. Tấm lưng ngực trước hơi gồ lên, có chiều dài gần bằng chiều rộng. Phần trước của tấm lưng ngực trước hơi hẹp lại và có những răng cưa xù xì, hàng răng cưa thứ nhất có 8 răng, 2 răng ở giữa cách xa nhau hơn những răng tiếp theo bên cạnh. Phần sau của tấm lưng ngực trước hơi rộng hơn, bề mặt có những chấm tròn xếp xít nhau. Hai góc sau của ngực trước có hình tròn, phần sau của bề mặt tấm lưng ngực trước có 2 hình ô van lõm xuống tương đối rõ ràng. Cánh cứng có những hàng chấm. Phiến thuỗn (Scutellum) mờ, có hình chữ nhật chiều rộng không bằng hai lần chiều dài.

Trứng có hình quả bí đao, ngắn, màu trắng sữa.

Sâu non màu trắng sữa, hình chữ C có 3 đôi chân ngực khoẻ.

 Sinh học: Mọt cái trưởng thành không đẻ trứng trên bề mặt cật tre mà chúng xâm nhập vào mặt cắt ngang hoặc mặt cắt dọc của dóng tre, mắt tre, hoặc tre bị xây sát mất phần cật tre. Ban đầu mọt cái đào một cái hang dài 3-5 cm và đường hang này luôn luôn vuông góc với mạch tre gọi là hang mọt mẹ, khi mọt cái xâm nhập vào mặt cắt ngang của ống tre thì đường hang mọt mẹ lúc đầu đi dọc theo mạch tre khoảng 0,3- 0,7cm, sau đó đường hang mẹ đổi hướng vuông góc với mạch tre. Trong hang mọt mẹ thường có một đực và một cái, cũng có khi có một con đực hai con cái, con đực đi trước đào hang, con cái ở phía sau tải mùn tre ra ngoài hoặc đổi nhau. Hang mọt mẹ bao giờ cũng rỗng và miệng hang mọt không được nút kín bởi mùn tre, do vậy thiên địch dễ dàng xâm nhập 

Sau khi giao phối con cái đẻ trứng vào những mạch tre thích hợp lớn hơn 130 μm, rồi dùng mùn tre nút mạch tre lại, mỗi con cái đẻ từ 50- 90 trứng, tỷ lệ trứng nở 75- 80%. Sâu non nở ra ban đầu ăn các chất hữu cơ có trong mạch tre, sau đó gặm thành mạch tre, đường hang sâu non lúc đầu song song theo mạch tre, về sau sâu non lớn dần,

 

Mọt tre Dinoderus minutus F (Lê Văn Nông 1999)

1. Mọt trưởng thành                      6. Cằm, lưỡi được tách từ mentum
2. Trứng                                        7. Đầu sâu non
3. Sâu non                                     8. Đốt chầy và đốt bàn chân
4. Nhộng                                        9. Cánh sau
5. Hàm dưới mọt trưởng thành

 

Tre bị mọt Dinoderus minutus F. phá hại
1. Đường hang của sâu non cắt ngang
2. Lỗ vũ hoá         5. Trứng ở trong mạch tre
3. Đường hang mọt mẹ  6. Mọt trưởng thành đực và cái
4. Đường hang sâu non cắt dọc        7. Buồng nhộng

 đường hang sâu non cũng lớn theo và chứa đầy phân của sâu non, đường hang sâu non càng lớn thì không song song với mạch tre nữa mà đan chéo nhau và có xu hướng luôn luôn vuông góc với đường hang mọt mẹ. Cuối đường hang sâu non là buồng nhộng có hình ô - van dài và song song với mạch tre. Sau khi lột xác từ nhộng, mọt tre trưởng thành mới còn lưu lại trong buồng nhộng 2-3 ngày mới bay ra ngoài. Lỗ vũ hoá của mọt tre có đường kính 1,2-1,4 mm, xuất hiện ở phần cật tre nhiều hơn ở phần bụng tre, mép lỗ vũ hoá không trơn. Thời gian bay của mọt tre trưởng thành vào tháng 3 -10, mùa đông bay ít hơn.

* Gỗ tre ký chủ: Loại mọt này thường phá hại tre nứa, tre mai, luồng Thanh Hoá, diễn đá, diễn trứng, nứa ngộ, nứa tép, trúc Cao Bằng, tre gai, tre ngà, mét (Nghệ An).

* Tác hại của mọt tre: Đây là một loài côn trùng cánh cứng hại tre nứa nghiêm trọng nhất ở nước ta. Trên diện tích 1000 cm2 nếu có 2-3 đôi mọt tre Dinoderus minutus đến xâm nhập thì 4- 5 tháng sau, những thanh tre chứa nhiều phân mọt, tre mất hết ứng lực không dùng được. Mọt tre không những hại tre nguyên liệu mà còn hại tre thành phẩm.

* Phòng trừ: Có nhiều phương pháp phòng trừ loại mọt tre này như: Ngâm tre xuống ao hồ theo phương pháp cổ truyền, phương pháp thay thế nhựa, phương pháp ngâm thường và chân không áp lực bằng các loại chế phẩm phù hợp.

 Theo tài liệu : en.wikipedia.org; ipmimages.org;
Tài liệu của TS Nguyễn Chí Thanh; TS Lê Văn Nông; Trường ĐH LN

Côn trùng hại lâm sản thuộc bộ cánh cứng(Coleoptera)(Phần 2)