Địa chỉ : Số 118 - Tổ 9 K3 - Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội. Tel: 04 2245 0069 - Fax : 043 763 2942 - Hotline: 0982 530 567
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc

Tìm kiếm

Ngôn ngữ: Vietnam English

Hỗ trợ trực tuyến

Quảng cáo

Kiến thức

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM  thuốc BVTV 2013

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM thuốc BVTV 2013

Thông tư Số 21 /2013/TT-BNNPTNT ngày 17 thang 4 năm 2013 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và Danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam

xc

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Tập định mức đơn giá phòng trừ mối trong công trình xây dựng và xử lý côn trùng gây hại ban hành kèm theo Quyết định số: 20QĐ/TWH ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam.

xc

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản) được phép sử dụng, hạn chế tại VIệt Nam năm 2012

xc

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc BVTV 2012 được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, và cấm sử dụng tại Việt Nam năm 2012 ban hành kèm theo thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/2/2012.

xc

Các loại côn trùng

  • cc9
  • ct9
  • ct6
  • ct 5a
  • ct4
  • Ct1
  • k9a
  • k9
  • k8
  • k7
  • k6
  • k5
  • k4
  • k3
  • k2
  • k1
  • nhen
  • bongua
  • bongua
  • kien7
  • kien5
  • dao xuan
  • kien
  • Moilinh1
  • Acromyrmex1
  • kien cat la 1
  • la suong
  • top 5
  • kien cat la
  • ctn 3t bo 12
  • ctn 3t bo2
  • ctn 3t bo 1
  • ctn 3t bo 8
  • ctn 3t BO4
  • ctn2tranh 8
  • ctnew1
  • moitho
  • moichua1
  • moi tho
  • ong bap cay
  • Bo 11
  • CONTRUNGLA
  • K.inchanus
  • hoa va ong
  • contrungla
  • Batterfly
  • Chuon1
  • 1-4
  • ct3
  • chuon chuon trang nau
  • chuon chuon ot
  • Chuon chuon
  • Termite
  • ong1
  • KIENLA
  • kien nam trong nam nho

Côn trùng hại lâm sản - Mối (Termites)

Mối là côn trùng đa hình thái, chúng có đời sống xã hội chặt chẽ, sống kín đáo trong đất và trong các giá thể bằng gỗ, mối gây thiệt hại lớn cho ngành lâm nghiệp, thuỷ lợi, xây dựng, kiến trúc. Mối không những phá hại những nhà tranh tre nứa lá, nhà cấp 4 mà chúng xâm nhập gây hại những cấu kiện bằng gỗ trong cao ốc nhiều tầng, chúng còn phá hại các loài cây công nghiệp như cao su, cà phê, mía, chè, mối phá hại các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulo

 

 Hiện nay, ở nước ta đã phát hiện được một số loài mối phá hại đồ gỗ, phá hại những cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng. Tuỳ theo loài mối mà mức độ phá hại nghiêm trọng khác nhau, đối với công trình xây dựng.  chúng ta sẽ nhìn rõ hơn một cách khái quát về chủng loại mối phân bố ở Việt Nam, trong đó có một số loài mối hại gỗ nghiêm trọng, sẽ được mô tả tương đối tỷ mỷ về phân bố, hình thái, sinh học, gỗ ký chủ và điểm qua cách phòng trừ có tính đặc trưng cho từng loài. Ba loài mối đại diện cho 3 họ sẽ được giới thiệu ở phần tiếp theo:

-     Cryptotermes domesticus Haviland (Kalotermitidae)

-     Coptotermes formosanus Shiraki (Rhinotermitidae)

-     Odontotermes (o) formosanus Shiraki (Termitidae)

Mối gỗ khô Cryptotermes domesticus Haviland

 Phân bố:

- Trong nước: Phân bố rất rộng, từ đồng bằng đến trung du miền núi đều phát hiện thấy loài này.

- Ngoài nước: Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan, Australia, Solomon, Xrilanca, Fiji, Samoa, Panama, Indonesia.

 Hình thái:

- Mối lính: Phần trước của đầu màu đen, phần sau có màu nâu hồng, hàm trên có màu đen nhìn từ phía bên, trán thẳng đứng hoặc vát lõm vào trong tạo thành mặt nghiêng và mặt nghiêng này cùng với hàm trên hình thành góc giao nhau nhỏ hơn 900. Đầu dày nhìn từ phía trên gần như vuông, hai bên song song, phần sau của đầu tròn.

Râu đầu đính ở hai bên phần trước của đầu, phía dưới mỗi hốc chân râu của đầu có một u lồi, to và gần như hướng lên phía trên, mắt ở chính phía sau của râu đầu. Râu đầu 12-14 đốt, độ dài đốt thứ 2 gần bằng nửa đốt thứ nhất và tương đối nhỏ, đốt thứ 3 ngắn hơn đốt thứ 2 và đốt thứ 4 thường rất ngắn 

- Mối vua và mối chúa nguyên thuỷ: Đầu có màu vàng tối, ngực, bụng, chân râu có màu vàng nhạt, vẩy cánh màu vàng tối. Đầu hình vuông dài mắt kép nhỏ, mắt đơn ở phía trước mắt kép, chân môi sau có hình giải ngang rất ngắn, không lồi lên, không phân biệt với trán rõ ràng. Độ dài chân môi trước gần bằng hai lần chân môi sau. Râu đầu có 16 đốt, đốt thứ 3,4,5 bằng nhau và hơi ngắn hơn đốt thứ 2. Tấm lưng ngực trước có chiều rộng bằng hoặc hơi rộng so với đầu. ở giữa mép sau và mép trước hơi lõm vào trong. Vẩy cánh trước hơi to hơn vẩy cánh sau.

Trong tổ mối gỗ khô có mối lính, mối thợ giả, mối non, mối sinh sản cánh ngắn, mối vua mối chúa nguyên thuỷ. Mối vua nguyên thuỷ có màu vàng, hình dạng kích thước giống như mối cánh trưởng thành sau khi rụng cánh.

Mối chúa nguyên thuỷ cũng có màu vàng, kích thước và hình dạng không có biến đổi đáng kể, bộ phận bụng không to ra như các giống mối khác ở đẳng cấp cao như Termitidae chẳng hạn. Để phân biệt với các đẳng cấp khác trong tổ mối gỗ khô là mối chúa mối vua nguyên thuỷ đầu tiên có mang trên mặt lưng của đốt ngực thứ 2 và 3 hai đôi vẩy cánh có màu vàng thẫm, 2 vẩy cánh trước to hơn 2 vẩy cánh sau một cách rõ ràng và trùm lên vẩy cánh sau.

Mối sinh sản cánh ngắn màu trắng khác với các đẳng cấp khác trong tổ mối gỗ khô là: Mặt lưng của đốt ngực thứ 2 và thứ 3 của mối sinh sản cánh ngắn có mang hai đôi cánh giống như cánh con cào cào non màu trắng và dài hơn hai đôi vẩy cánh của mối vua và mối chúa nguyên thuỷ.

Trong tổ mối gỗ khô Cryptotermes domesticus Haviland tồn tại hai đẳng cấp sinh sản song song với nhau là mối chúa mối vua nguyên thuỷ và mối sinh sản cánh ngắn.

Mối thợ giả màu trắng kích thước và hình dạng cũng gần giống như mối sinh sản cánh ngắn, nhưng chỉ khác là mối thợ giả không mang trên thân 2 đôi cánh.

 Sinh học:

Mối gỗ khô bay giao hoan phân đàn vào tháng 4 đến tháng 9, ngoài những tháng này ra vẫn có hiện tượng bay giao hoan phân đàn vào tháng 10, 11 hàng năm khi trời nắng ấm.

- Sự hình thành tổ mối gỗ khô: Mối cánh trưởng thành sau khi bay ra khỏi tổ bằng chính lỗ nhỏ mà mối gỗ khô dùng để đùn phân mối ra ngoài còn gọi là lỗ vũ hoá hay lỗ thông khí, đường kính lỗ vũ hoá Ф ≥ 1 mm. Khi nào không đùn phân mối ra ngoài và không phải là thời kỳ vũ hoá thì mối dùng nước bọt của mối tiết ra đem nhào với phân mối rồi bịt lỗ vũ hoá lại. Mối cánh trưởng thành đực và cái bay ra khỏi tổ rất nhanh nhẹn, chúng bay qua bay lại mấy vòng rồi đậu xuống đất hoặc những mặt bàn, ghế giường tủ, chúng hoạt động mạnh làm cánh rụng và tìm nhau ghép đôi. Mối đực và mối cái tìm đến những khe hở của mộng ghép, vết nứt của gỗ và đặc biệt chúng tìm đến những lỗ mọt nước (mọt gỗ tươi) có trên bề mặt gỗ để làm tổ, khi tìm được nơi thích hợp chúng dùng nước bọt tiết ra đem nhào với phân mối và mùn gỗ do chúng gậm ra tạo ra một thứ hồ để bịt các khe hở để tạo nên tổ mối ban đầu, kính thước của tổ mối ban đầu dài hơn chiều dài của mối đực, mối cái khoảng 1,2- 1,5 cm, chiều rộng khoảng 1,2-1,5mm. Con đực và con cái giao phối sau 7-10 ngày thì đẻ trứng, trứng nở ra mối non. Lúc này mối đực và mối cái được gọi là mối vua mối chúa nguyên thuỷ (mối vua mối chúa đầu tiên). Mối non qua nhiều lần lột xác thành các đẳng cấp mối khác nhau: mối thợ giả, mối lính, mối sinh sản cánh ngắn. Tổ mối ở trong gỗ nơi mối lấy thức ăn, không liên hệ với đất, với nguồn nước và không có đường mui, không có vườn cấy nấm.

- Vai trò của mối lính, mối thợ giả, mối sinh sản cánh ngắn:

Mối lính chiếm tỷ lệ khoảng 5-6% trong tổng số cá thể của quần thể mối. Chức năng mối lính chưa rõ ràng lắm. Theo tài liệu của Thái Bang Hoa (1964) thì mối lính dùng phần đầu cứng rắn của mình để bịt các lỗ thông khí khi cần thiết để ngăn chặn thiên địch xâm nhập vào tổ mối gỗ khô.

Mối thợ giả, mối sinh sản cánh ngắn có chức năng gậm gỗ và dùng bộ phận miệng như một bàn tay Rôbốt để gắp những viên phân mối vứt ra ngoài qua lỗ thông khí hoặc gắp trứng mối đặt vào nơi thích hợp. Khi không thải phân ra ngoài thì bịt lỗ thông khí lại.

Mối sinh sản cánh ngắn có thể gọi là mối vua mối chúa bổ sung vì nó có khả năng sinh sản và cùng tồn tại với mối vua và mối chúa nguyên thuỷ trong cùng một tổ, mối vua và mối chúa nguyên thuỷ tự gặm gỗ để sống và không cần một đẳng cấp nào mớm thức ăn cho, chức năng này khác với mối vua và mối chúa ở đẳng cấp cao như Reticulitermes.

- Tổ mối gỗ khô: Là những khoang rỗng, không có hình dạng đặc trưng, những khoang lớn dài thường song song với thớ gỗ, nếu thớ gỗ vằn thì hang mối cũng vằn theo, giữa các hang mối này thường có nhiều lỗ nhỏ có đường kính  Ф ≥ 1mm thông với nhau, khi không cần thiết thì bịt lại như là bịt lỗ thông khí. Khi bàn ghế bị mối gỗ khô hại nghiêm trọng thì lấy ngón tay di nhẹ trên bề mặt gỗ là hang mối sẽ lộ ra ngoài làm mất vẻ đẹp của gỗ vì khi gặm gỗ mối gỗ khô bao giờ cũng chừa lại một lớp gỗ mỏng trên bề mặt gỗ để tránh ánh sáng và giữ độ ẩm cần thiết cho tổ mối. Trong một tổ mối thường thông ra ngoài bằng một lỗ thông khí và chính lỗ này mối đùn phân ra ngoài, đồng thời cũng là lỗ vũ hoá. Đường kính của lỗ vũ hoá Ф ≥ 1mm nhưng để đùn phân ra ngoài mối gỗ khô chỉ mở rộng khoảng 0,3 - 0,4 mm, khi vũ hoá chúng mới mở rộng lỗ vũ hoá với độ rộng thích hợp để bay ra ngoài. Thức ăn của mối gỗ khô là gỗ, gỗ chết khô ở trong thân cây sống. Mối gỗ khô hại gỗ từ năm này qua năm khác làm gỗ mất hết ứng lực không dùng được.

 Gỗ ký chủ:

Mối gỗ khô xâm nhập phá hại rất nhiều các loại gỗ khác nhau. Theo tài liệu của Nguyễn Đức Khảm 1976 thì thống kê được 70 loại gỗ khác nhau thuộc 31 họ thực vật kể cả gỗ lá kim và gỗ lá rộng.

 Phòng trừ:

Để ngăn ngừa loài mối này xâm nhập vào gỗ có thể dùng các loại thuốc tan trong nước và tan trong dầu như Lentrek 40EC, Cislin 2,5EC, để quét, phun bề mặt gỗ với liều lượng dùng ≈ 300 ml/m2. Để diệt chúng có trong gỗ có thể dùng sơ ranh bơm thuốc vào tổ mối qua các lỗ vũ hoá của mối.

Mối gỗ ẩm (mối nhà) Coptotermes formosanus Shiraki (Họ Rhinotermitidae)

 Phân bố:

- Trong nước: Phân bố loài này rất rộng, trừ núi cao, rừng ngập mặn và bãi cát ven biển (Nguyễn Đức Khảm, 1976). Những nơi đã phát hiện loài mối này: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Yên Bái, Quảng Bình, Ninh Thuận, Nha Trang, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ngoài nước: Nhật Bản, Philippin, Đảo Marsan, Guam, Haoai, Mituây, Nam châu Phi, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Hồ Bắc...(Nguyễn Đức Khảm, 1976).

 Hình thái:

- Mối lính: Đầu và râu đầu có màu vàng, hàm trên có màu nâu đen, bụng có màu trắng sữa. Nhìn từ trên có hình trứng tròn, rộng nhất là ở giữa đầu, phần trước và sau thu hẹp lại so với phần giữa đầu, thóp có hình gần như tròn, to mà rõ ràng, đính ở trên một ống ngắn lồi lên phía trước cuối của đầu. Hàm trên có hình lưỡi kiếm, phần trước của hàm cong vào giữa, ở chân hàm trên bên trái có một vết lõm sâu, phía trước vết lõm này có 4 mấu lồi nhỏ nổi lên, mấu lồi nhỏ cuối cùng ở phía trước, đỉnh ở sau trung điểm của hàm trên, phần còn lại của mặt hàm trơn không có răng. Môi trên có hình lưỡi; đầu môi có đỉnh nhọn thấu quang không rõ ràng, vươn dài tới một nửa độ dài hàm trên đóng kín.

Râu đầu mối lính có 14 - 16 đốt, đốt thứ 2, 3, 4 gần bằng nhau, hoặc đốt thứ 2 dài hơn so với đốt thứ 3 và thứ 4, đốt thứ 4 dài hơn hoặc bằng đốt thứ 3, đốt thứ 5 dài hơn hoặc bằng đốt thứ 2; sau đó các đốt hơi đều và hơi dài hơn so với đốt thứ 5, đốt cuối cùng không nhỏ lại. Tấm lưng ngực trước bằng, hẹp lại so với đầu, giữa mép sau và mép trước lõm vào.

- Mối thợ: Đầu có màu vàng, bụng màu trắng, có lúc nhìn thấu cả màu sắc bộ phận bên trong ruột. Phần sau đầu hình tròn, phần trước đầu mỏng, chỗ rộng nhất của đầu là hốc râu đầu, chân môi sau rất ngắn, độ dài tương đương với 1/4 độ rộng và hơi cong lên, râu đầu có 15 đốt. Mép trước của tấm lưng ngực trước hơi cong lên, độ dài của bụng hơi rộng so với đầu, bụng không to.

- Mối cánh trưởng thành (thành trùng có cánh): Mặt lưng của đầu có màu nâu vàng thẫm. Mặt lưng của ngực và bụng có màu vàng nâu, hơi nhạt so với đầu. Mặt bụng của bụng có màu vàng, cánh có màu vàng nhạt. Mắt kép gần như tròn. Mắt đơn tròn dài, khoảng cách giữa mắt đơn và mắt kép nhỏ hơn độ rộng của mắt đơn. Chân môi sau cực ngắn, như một dải ngang màu vàng nhạt và hơi lồi lên, độ dài bằng 1/3 -1/4 độ rộng. Chân môi trước màu trắng và dài hơn chân môi sau. Môi trên màu vàng nhạt, đỉnh môi hình tròn. Râu đầu dài có 20 đốt, độ dài từ đốt thứ 2 đến đốt thứ 6 gần bằng nhau hoặc có biến hoá, đốt cuối cùng của râu đầu hình tròn đến tròn dài.

Mép trước của tấm lưng ngực trước lõm về phía sau, mép bên và mép sau hợp lại với nhau gần như nửa hình tròn, ở giữa mép sau hơi lõm vào trong, vẩy cánh trước lớn hơn vẩy cánh sau và hơi trùm lên vẩy cánh sau, bề mặt vẩy cánh có những lông tơ dày hơi ngắn.

- Mối vua mối chúa: Mối chúa phát triển chậm về kích thước. Mối chúa nuôi trong phòng thí nghiệm chỉ đạt chiều dài 22mm (Nguyễn Chí Thanh, 1996).

 Sinh học:

- Tổ mối: Mối nhà sống thành quần thể tập trung có số lượng cá thể lớn có đến hàng triệu cá thể, tổ mối sống ở trong đất, chân cột gỗ hoặc trong các khoảng trống của panen. Tổ mối xốp, dạng hình nón và có màu xám tro hoặc xám đen, không có vườn cấy nấm và có liên hệ với đất và nguồn nước.

Mùa bay giao hoan và phân đàn vào tháng 4, 5, 6 tuỳ theo khí hậu hàng năm mà mối bay sớm hoặc muộn hơn, thời gian bay từ 18-23 giờ, nhiệt độ 29-31oC, độ ẩm 95-100%. ánh sáng đèn dầu hoả (40-50Lux), đèn tử ngoại, đèn nê-ông, đều hấp dẫn mối cánh. Lợi dụng đặc tính sinh học này người ta diệt mối cánh trong khi chúng bay tập trung xung quanh ánh sáng đèn.

Mối cánh bay lượn sau đó ghép đôi giao phối từ 5-17 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, đôi khi kéo dài 30 ngày mới đẻ trứng (Nguyễn Đức Khảm, 1976).

- Con đường xâm nhập của mối vào công trình xây dựng: Có hai con đường mối xâm nhập vào công trình xây dựng:

+ Từ tổ mối: Mối thợ đắp những đường mui lộ thiên hoặc đào những đường hầm kín đáo để xâm nhập vào những cấu kiện gỗ trong công trình xây dựng. Trong trường hợp này tổ mối thường ở gần ngoài công trình xây dựng, tuổi tổ mối đã có từ 2-3 năm trở lên, số cá thể trong tổ mối nhiều, những tổ mối này có thể đã có trước hoặc sau công trình xây dựng hoàn thiện.

+ Con đường thứ 2: Mối cánh xâm nhập vào nền móng công trình trong mùa bay giao hoan của mối. Khi mối cánh trưởng thành bay giao hoan phân đàn thường là vào tháng 4, 5, 6 chúng sẽ tìm đến những công trình đang xây dựng dở dang, nhưng đã đổ sàn từ tầng một trở lên, lúc này nền móng nhà có những nơi có độ ẩm, nhiệt độ môi trường thích hợp, và vì có mái che từ tầng một nên không bị úng nước, ban đêm lại thắp đèn có ánh sáng để thi công, nên hấp dẫn mối cánh trưởng thành bay đến, rụng cánh ghép đôi làm tổ mối mới. Khi hoàn thiện nền nhà tầng một không chú ý đến phòng mối cho nền móng công trình, khoảng một vài năm sau mối từ dưới nền lên xâm nhập, phá hại. Do vậy, việc phòng mối cho nền móng công trình xây dựng mới là rất cần thiết (kỹ thuật phòng mối cho nền móng công trình sẽ được trình bày ở phần sau trong tài liệu).

- Thức ăn của mối: Gỗ thông trắng của Liên Xô (cũ), trám trắng, vạng trứng, bồ đề là những thức ăn ưa thích của mối gỗ ẩm, do vậy người ta dùng những loại gỗ trên làm mồi nhử mối.

Mối đất cánh đen Odontotermes (O) formosanus Shiraki (Termitidae)

 Phân bố:

- Trong nước: Loài này sống ở toàn miền Bắc

- Ngoài nước: Các nước vùng Đông phương.

 Hình thái:

- Mối lính: Đầu có màu vàng tối, bụng có màu vàng nhạt đến trắng xám, đầu có lông thưa, nhìn từ mặt lưng, đầu hình trứng có chiều dài lớn hơn chiều rộng, chỗ rộng nhất ở sau trung điểm của đầu, phía trước hơi hẹp lại. Hàm trên hình lưỡi liềm, phía trước trung điểm của hàm trên bên trái có một răng rõ ràng, đỉnh nhọn của răng hướng về phía trước. Môi trên hình lưỡi, hẹp trước rộng sau, đỉnh trước không có mảnh thấu quang, hai bên hình vòng cung. Đỉnh môi trên không đạt đến trung điểm của hàm trên. Râu đầu 15-17 đốt.

- Mối thợ: Đầu màu vàng, ngực có màu trắng xám, mép bên và mép sau của đầu cong hình tròn, râu đầu 17 đốt, đốt thứ 2 dài hơn đốt thứ 3.

- Mối cánh: Mặt lưng của đỉnh đầu, ngực có màu đen. Toàn thân có lông dày. Đầu hình tròn, mắt kép hình tròn dài. Cự ly giữa mắt đơn và mắt kép bằng độ dài của bản thân mắt đơn. Râu đầu 19 đốt, đốt thứ 2 dài hơn đốt thứ 3 hoặc đốt 4, 5.

 Sinh học:

Mối bay giao hoan phân đàn từ tháng 4 đến tháng 6. Mối cánh bay ra có khi tới 2000- 3000 cá thể, nhiều đến 9000 cá thể, tổ có vườn nấm, thức ăn của mối là phần gỗ tiếp xúc với đất như cột nhà, cột điện tà vẹt, loài mối này còn ăn vỏ cây sống, bạch đàn, tếch, phi lao, sắn. Tác hại của loài này đối với các công trình kiến trúc không lớn như loài Coptotermes formosanus Shiraki.

 Danh sách những loài mối ở Việt Nam
(Nguyễn Đức Khảm, 1989)

Bộ Isoptera

I. Họ Kalotermitidae Enderlein

Giống Neotermes Holmgren

1. Neotermes termitillesemus Nguyen

2. Neotermes koshunensis Shiraki

Giống Cryptotermes Banks

3. Cryptotermes domesticus Haviland

4. Cryptotermes declivis Tsai et Chen

Giống Glyptotermes Froggratt

5. Gryptotermes satsumensis Matsumura

6. Gryptotermes fuscus Oshima

II. Họ Termopsidae Grasse’

Giống Hodotermopsis Holmgren

7. Hodotermopsis sjotedti Holmgren

8. H. japonicus Holmgren

III. Họ Rhinotermitidae Light

Giống Reticulitermes Holmgren

9. Reticulitermes chinensis Snyder

10. Reticulitermes magdalenae Silvestri

11. Reticulitermes speratus Kolbe

12. Reticulitermes flavicep Oshima

13. Reticulitermes dangi Nguyen

14. Reticulitermes microcephalus Nguyen

Giống Schedorhinotermes Silvestri

15. Schedorhinotermes magnus Tsai et Chen

16. Schedorhinotermes malaccensis (Holmgren)

17. Schedorhinotermes medroobsnures Holmgren

18. Schedorhinotermes sarawakensis (Holmgren)

Giống Coptotermes Wasmann

19. Coptotermes formosanus Shiraki

20. Coptotermes ceylonicus Holmgren

21. Coptotermes travians Haviland

22. Coptotermes emersoni Ahmad

23. Coptotermes curvignathus Holmgren

24. Coptotermes dimorphus Nguyen

IV. Họ Termitidae Light

Giống Speculitermes Wasmann

25. Speculitermes donhannensis Nguyen

Giống Globitermes (Holmgren)

26. Globitermes sulphureus Haviland

Giống Euhamitermes (Holmgren)

27. Euhamitermes hamtus Holmgren

Giống Microcerotermes Silvestri

28. Microcerotermes bugnioni (Holmgren)

29. Microcerotermes crassus Snyder

30. Microcerotermes burmanicus Ahmad

Giống Termes Linnaeus

31. Termes comis Haviland

32. Termes laticornis Haviland

Giống Macrotermes Holmgren

33. Macrotermes annandalei Silvestri

34. Macrotermes gilvus (Hagen)

35. Macrotermes carbonarius (Hagen)

36. Macrotermes maesodensis Ahmad

37. Macrotermes malaccensis Haviland

38. Macrotermes barneyi Light

39. Macrotermes estherae (Holmgren)

Giống Microtermes Wasmann

40. Microtermes dimorphus Tsai et Chen

41. Microtermes obeis (Holmgren)

42. Microtermes insertoides (Holmgren)

Giống Odontotermes Holmgren

43. Odontotermes graveli Silvertri

44. Odontotermes ynnanensis Tsai et Chen

45. Odontotermes horni Wasmann

46. Odontotermes hainanensis Light

47. Odontotermes angustignathus Tsai et Chen

48. Odontotermes feae Wasmann

49. Odontotermes formosanus Shiraki

50. Odontotermes djampeensis Kemner

51. Odontotermes proformosanus Ahmad

52. Odontotermes pahamensis Nguyen

Giống Hypotermes (Holmgren)

53. Hypotermes obcusiceps Hasmann

54. Hypotermes sumatrensis (Holmgren)

55. Hypotermes mackhamensis Ahmad

Giống Pericapritermes (Silvestri)

56. Pericapritermes semarangi (Holmgren)

57. Pericapritermes tetraphilus (Silvestri)

58. Pericapritermes frontalus Nguyen

59. Pericapritermes nitobei (Shiraki)

60. Pericapritermes latignathus (Holmgren)

Giống Procapritermes (Holmgren)

61. Procapritermes sowerbyi (Light)

62. Procapritermes albipennis Tsai et Chen

Giống Discuspiditermes Krisna

63. Discuspiditermes orientalis Haris

Giống Nasutitermes Dudley

64. Nasutitermes paranacutus Shiraki

65. Nasutitermes deltocephalus Tsai et Chen

66. Nasutitermes moratus Silvestri

67. Nasutitermes gardneri Snyder

68. Nasutitermes bulbiceps Holmgren

69. Nasutitermes matangensis Haviland

70. Nasutitermes matangengiformis Holmgren

71. Nasutitermes parpavus Ahmad

72. Nasutitermes communis Tsai et Chen

73. Nasutitermes sp 1

Giống Trinervitermes Holmgren

74. Trinervitermes orthonasus Tsai et Chen

75. Trinervitermes senae Nguyen

76. Trinervitermes disparatus Silvestri

Giống Bulbitermes Emerson

77. Bulbitermes laticephalus Ahmad

78. Bulbitermes prabhae Krisna

Giống Lacessilitermes Holmgren

79. Lacessilitermes holmgreni Light-Wilson

80. Lacessilitermes cuphus Silvestri

Giống Hospitalitermes Holmgren

81. Hospitalitermes luzonensis Oshima

82. Hospitalitermes ataramensis Prashad et Sen-Sar.

 

Vòng đời của mối (Lê Văn Nông, 1999) 
1. Mối chúa (nguyên thuỷ)                       2. Mối vua (nguyên thuỷ) 
 3. Trứng mối                                           4. Mối non  
 5 và 8. Mối cánh ngắn                             6. Mối thợ 
 7. Mối lính                                               9. Mối non (giống)
10. Mối chúa bổ sung không cánh          11. Mối chúa bổ sung cánh ngắn
12. Mối cánh trưởng thành chưa rụng cánh
13. Mối cánh trưởng thành đã rụng cánh

 

      Một số đặc điểm cấu tạo của mối (Thái Bang Hoa, 1964)

 

1. Đầu và ngực mối lính gỗ khô Cryptotermes domesticus (từ trên)
2. Đầu và ngực mối lính gỗ khô (nghiêng)
3. Đầu, ngực và vẩy cánh mối cánh trưởng thành Coptotermes formosanus
4. Đầu và ngực mối lính C. formosanus (từ trên)

5. Đầu và ngực mối lính C. formosanus (nghiêng)
6. Râu đầu mối lính C. formosanus

 

Mối lính Macrotermes annadalei (Thái Bang Hoa, 1964)

1. Đầu mối lính lớn (từ trên)  2. Đầu mối lính lớn (nghiêng)
3. Đầu mối lính nhỏ (từ trên) 4. Đầu mối lính nhỏ (nghiêng

Sự khác biệt về đặc trưng hình thái và đặc tính sinh học giữa mọt hại gỗ và mối hại gỗ

Mọt hại gỗ và mối hại gỗ có sự khác biệt về đặc trưng hình thái và đặc tính sinh học nhưng hai nhóm côn trùng hại gỗ này đều lấy gỗ làm thức ăn hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp để sinh trưởng và phát triển. 

Sự khác biệt giữa mối hại gỗ và mọt hại gỗ

Tên nhóm côn trùng hại gỗ

Vị trí phân loại

Thức ăn của côn trùng

Biến thái côn trùng

Đặc tính sinh học

Mối hại gỗ

Bộ cánh bằng Isoptera

các loại gỗ và các sản phẩm có từ xenlulo

Biến thái thiếu (không có giai đoạn nhộng) gồm có trứng, sâu non (ấu trùng) và trưởng thành

- Côn trùng xã hội sống thành quần thể.

- Trong cùng tổ của một loài có phân chia đẳng cấp và có chức năng khác nhau giữa các cá thể.

Mọt hại gỗ

Bộ cánh cứng Coleoptera

Các loại gỗ và các lâm sản khác

Biến thái đủ gồm có trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành

Côn trùng sống đơn lẻ, các cá thể trong một loài không có phân chia đẳng cấp và không có chức năng khác nhau giữa các cá thể


 Côn trùng hại lâm sản - Phần 5 Hà hại gỗ  Teredinidae