Địa chỉ : Số 118 - Tổ 9 K3 - Thị trấn cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội. Tel: 04 2245 0069 - Fax : 043 763 2942 - Hotline: 0982 530 567
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc
  • abc

Tìm kiếm

Ngôn ngữ: Vietnam English

Hỗ trợ trực tuyến

Quảng cáo

Kiến thức

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM  thuốc BVTV 2013

TT số 21/2013/TT-BNN PTNT Ban hanh DM thuốc BVTV 2013

Thông tư Số 21 /2013/TT-BNNPTNT ngày 17 thang 4 năm 2013 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và Danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam

xc

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Định mức đơn giá phòng trừ mối năm 2012

Tập định mức đơn giá phòng trừ mối trong công trình xây dựng và xử lý côn trùng gây hại ban hành kèm theo Quyết định số: 20QĐ/TWH ngày 26 tháng 06 năm 2012 của Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam.

xc

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản)

Danh mục thuốc BTVT 2012( Mối và bảo quản lâm sản) được phép sử dụng, hạn chế tại VIệt Nam năm 2012

xc

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật 2012

Danh mục thuốc BVTV 2012 được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, và cấm sử dụng tại Việt Nam năm 2012 ban hành kèm theo thông tư 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/2/2012.

xc

Các loại côn trùng

  • cc9
  • ct9
  • ct6
  • ct 5a
  • ct4
  • Ct1
  • k9a
  • k9
  • k8
  • k7
  • k6
  • k5
  • k4
  • k3
  • k2
  • k1
  • nhen
  • bongua
  • bongua
  • kien7
  • kien5
  • dao xuan
  • kien
  • Moilinh1
  • Acromyrmex1
  • kien cat la 1
  • la suong
  • top 5
  • kien cat la
  • ctn 3t bo 12
  • ctn 3t bo2
  • ctn 3t bo 1
  • ctn 3t bo 8
  • ctn 3t BO4
  • ctn2tranh 8
  • ctnew1
  • moitho
  • moichua1
  • moi tho
  • ong bap cay
  • Bo 11
  • CONTRUNGLA
  • K.inchanus
  • hoa va ong
  • contrungla
  • Batterfly
  • Chuon1
  • 1-4
  • ct3
  • chuon chuon trang nau
  • chuon chuon ot
  • Chuon chuon
  • Termite
  • ong1
  • KIENLA
  • kien nam trong nam nho

Tác hại của nấm mốc và chẩn đoán ký sinh trùng bằng phương pháp nhuộm giemsa

Đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt về các loài vi sinh vật nói chung và nhà ký sinh trùng nói riêng, công cụ kính hiển vi như thể người bạn đồng hành trong suốt quá trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu hình thái học,

 

 

định loại và định danh cơ bản của các loài sinh vật và ký sinh trùng, hơn nữa việc tìm ra các đặc điểm về hình thái tạo nên một bức tranh đa dạng về sinh học, ít nhất cũng là về mặt hình thái bên ngoài của vi sinh vật (chưa kể đến khác biệt mức độ phân tử). Không những thế, chúng còn giúp các nhà khoa học, nhà điều trị phát hiện, chẩn đoán và theo dõi diễn tiến điều trị của bệnh nhân mắc các vi sinh vật hay ký sinh trùng đó từ khi điều trị đến khi khỏi bệnh, sự trưởng thành và phát triển của các thể schizonte (SMT) hoặc phát triển trưởng thành của thể tư dưỡng (TMT) của các ký sinh trùng sốt rét trong đáp ứng với các thuốc sốt rét trên môi trường in vitro,…Vai trò của chúng là vậy, song dù có xem chúng như người bạn trong suốt “sự nghiệp khoa học” của mình chăng nữa, thì việc bảo quản và bảo trì kính hiển vi hiện nay tại các la bô nghiên cứu, các phòng xét nghiệm vẫn còn mang tính đại khái, qua loa, khiến không ít kính còn mói nhưng đã hỏng, hỏng có thể một hay nhiều bộ phận của kính nên dẫn đến tính chính xác trong kết quả ít nhiều vì thế cũng thay đổi. Một trong những sự “hỏng hóc” đó chính là quá trình nhiễm nấm của các thấu kính quá rõ ràng và ngày càng mờ đi khi chúng tai tiến hành nhìn vi trường và vật.

Kính hiển vi(KHV) là một thiết bị dùng để quan sát các vật thể có kích thước nhỏ mà mắt thường không thể quan sát được bằng cách tạo ra các hình ảnh phóng đại của vật thể đó. Kỹ thuật quan sát và ghi nhận hình ảnh bằng các kính hiển vi được gọi là kỹ thuật hiển vi. Ngày nay, KHV có thể bao gồm nhiều loại khác nhau: KHV quang học sử dụng ánh sáng khả kiến, cho đến các KHV quét đầu dò, hoặc các KHV phát xạ quang... KHV được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành như vật lýhóa họcsinh họckhoa học vật liệuy học và được phát triển không chỉ là công cụ quan sát mà còn là một công cụ phân tích. Làm thế nào chúng ta khắc phục được tình trạng nấm mốc trên các thấu kính, quả thật đến nay vẫn chưa có nhiều biện pháp tổng hòa cho việc xử lý này, trong khi nước ta là thuộc khu vực có khí hậu “nhiệt đới” - cái nắng nóng và ẩm ẩm sẽ không sao tránh khỏi các tác nhân là vậy. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến một số thông tin-có lẽ chỉ để chia sẻ bạn đọc về nấm mốc và kính hiển vi: Lợi - Hại?

Những KHV đầu tiên được phát minh vào những năm 1590s ở MiddelburgHà Lan. Ba người thợ tạo kính là Hans Lippershey (người đã phát triển các kính viễn vọng trước đó), Zacharias Janssen, cùng với cha của họ làHans Janssen là những người đầu tiên thiết kế nên những KHV sơ khai. Năm 1625, Giovanni Faber là người phát triển một KHV hoàn chỉnh đặt tên là Galileo Galilei Cấu trúc của KHV quang học tiếp tục được phát triển tiếp theo đó và KHV chỉ được sử dụng một cách phổ biến hơn ở ItaliaAnh, Hà Lan vào những năm 60, 70. Marcelo Malpighiở Italia bắt đầu sử dụng KHV để nghiên cứu cấu trúc sinh học ở phổi. Đóng góp lớn nhất thuộc về nhà phát minh người Hà Lan Antoni van Leeuwenhoek, người đã phát triển KHV để tìm ra tế bào hồng cầu và tinh trùng và đã công bố các phát hiện này. Các phát triển ban đầu về KHV là thiết bị quang học sử dụng ánh sáng khả kiến và các thấu kính thủy tinh để quan sát. Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật hiển vi tạo sự nhảy vọt với sự ra đời của các KHV điện tử mà mở đầu là KHV điện tử truyền qua được phát minh năm 1931 bởi Max Knoll và Ernst Ruska ở Đức và sau đó là sự ra đời của KHV điện tử... Cuối thế kỷ 20, một loạt các kỹ thuật hiển vi khác được phát triển như KHV quét đầu dò, KHV quang học trường gần...

GIỚI THIỆU VỀ KÍNH HIỂN VI VA VAI TRÒ CỦA CHÚNG TRONG ĐỜI SỐNG

 
 
Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của một kính hiển vi quang học.

Cấu trúc và một số linh kiện của các loại kính hiển vi

Kính hiển vi quang học

Là nhóm KHV sử dụng ánh sáng khả kiến rọi lên vật cần quan sát và các thấu kính thủy tinh để phóng đại thông qua các nguyên lý khúc xạ của ánh sáng qua thấu kính thủy tinh. Đây là KHV đầu tiên được phát triển. Ban đầu, người ta phải sử dụng mắt để nhìn trực tiếp hình ảnh được phóng đại, nhưng các KHV quang học hiện đại ngày nay có thể được gắn thêm các bộ phận chụp ảnh như phim quang học, hoặc các CCD camera để ghi hình ảnh, hoặc video. Các bộ phận chính của KHV quang học bao gồm: Nguồn sáng, hệ hội tụ và tạo chùm sáng song song, giá mẫu vật, Vật kính (có thể là một thấu kính hoặc một hệ thấu kính) là bộ phận chính tạo nên sự phóng đại, hệ lật ảnh (lăng kính, thấu kính), thị kính là thấu kính tạo ảnh quan sát cuối cùng, hệ ghi ảnh.

Trên nguyên lý, kính hiển vi quang học có thể tạo độ phóng đại lớn tới vài ngàn lần, nhưng độ phân giải của các kính hiển vi quang học truyền thống bị giới hạn bởi hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng và cho bởi:

 

Với λ là bước sóng ánh sáng, NA là thông số khẩu độ. Vì thế, độ phân giải của các KHV quang học tốt nhất chỉ vào khoảng vài trăm nm.

Kính hiển vi quang học quét trường gần
 

KHV quang học quét trường gần (Near-field scanning optical microscope) là một kỹ thuật kỹ thuật hiển vi quang học cho phép quan sát cấu trúc bề mặt với độ phân giải rất cao, vượt qua giới hạn nhiễu xạ ánh sáng khả kiến ở các KHV quang học truyền thống (trường xa). Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách đặt một detector rất gần với bề mặt của mẫu vật để thu các tín hiệu từ trường phù du của sóng ánh sáng phát ra khi quét một chùm sáng trên bề mặt của mẫu vật. Với kỹ thuật này, người ta có thể chụp ảnh bề mặt với độ phân giải ngang cỡ 20 nm, phân giải đứng cỡ 2-5 nm, và chỉ phụ thuộc vào kích thước của khẩu độ.

Kính hiển vi điện tử

Là nhóm kỹ thuật hiển vi mà ở đó nguồn bức xạ ánh sáng được thay thế bằng các chùm điện tử hẹp được tăng tốc dưới hiệu điện thế từ vài chục kV đến vài trăm kV. Thay vì sử dụng thấu kính thủy tinh, KHV này sử dụng các thấu kính từ để hội tụ chùm điện tử, và cả hệ được đặt trong buồng chân không cao. Có nhiều loại KHV điện tử khác nhau, tùy thuộc vào cách thức tương tác của chùm điện tử với mẫu vật như KHV điện tử truyền qua sử dụng chùm điện tử chiếu xuyên qua vật, hay kính hiển vi điện tử quét sử dụng chùm điện tử quét trên vật.

KHV điện tử có độ phân giải giới hạn bởi bước sóng của sóng điện tử, nhưng do sóng điện tử có bước sóng rất ngắn nên chúng có độ phân giải vượt xa các KHV quang học truyền thống và KHV kính điện tử truyền quahiện đang là loại KHV có độ phân giải tốt nhất tới cấp độ hạ nguyên tử. Ngoài ra, nhờ tương tác giữa chùm điện tử với mẫu vật, KHV điện tử còn cho phép quan sát các cấu trúc điện từ của vật rắn, đem lại nhiều phép phân tích hóa học với chất lượng rất cao.

Kính hiển vi quét đầu dò

KHV quét đầu dò (Scanning probe microscopy, thường viết tắt là SPM) là tên gọi chung của nhóm KHV mà việc tạo ảnh bề mặt của mẫu vật được thực hiện bằng cách quét một mũi dò nhỏ trên bề mặt của mẫu vật. Nhóm KHV này ra đời vào năm 1981 với phát minh của Gerd Binnig và Heinrich Rohrer (IBM Zürich) về KHV quét chui hầm(cả hai đã giành giải Nobel Vật lý năm 1986 cho phát minh này). Khác với các loại KHV khác như quang học, hay hiển vi điện tử, KHV quét đầu dò không sử dụng nguồn bức xạ để tạo ảnh, mà tạo ảnh thông qua tương tác giữa đầu dò và bề mặt của mẫu vật. Do đó, độ phân giải của KHV vi đầu dò chỉ bị giới hạn bởi kích thước của đầu dò.

VAI TRÒ NẤM MỐC VÀ HẬU QUẢ LÊN KÍNH HIỂN VI

 

1. Nấm mốc và con người

-Người thường ít biết về nấm mốc và thường nghĩ là nấm mốc chỉ gây tác hại: Chúng phát triển nhanh trong bóng tối, ở những nơi ẩm thấp, làm hỏng thức ăn và gây bệnh.

-Nhưng đó là những nấm gây tác hại cho con người, đôi khi ta cũng lợi dụng được chúng như dùng nấm lên men rựou, làm tương, làm pho mat, làm thuốc kháng sinh….

-Người ta cho rằng nấm đã xuất hiện trên trái đát này từ cách đây 3 tỉ năm, ngày nay có thể tìm thấy một trăm triệu cây nấm mốc trong một gam đất. Khoảng từ 2.000 năm trước đây, lần đầu tiên vi sinh vật này được dùng làm dấm ăn. Từ đó đến nay ứng dụng của nấm dã không ngừng mở rộng kể cả trong sản xuất thực phẩm lẩn thuốc men.

-Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu thực sự về nấm coi như mới bắt đầu từ 100 năm nay, lĩnh vực này trở nên rất sâu rộng và có thể sánh ngang với lĩnh vực điện tử và quang học;

Một số loài Aspergillus gây ra các bệnh nghiêm trọng ở người và động vật. Những loài có gây bệnh quan trọng nhất là loài Aspergillus fumigatus và Aspergillus flavusAspergillus flavus sinh ra aflatoxin gây độc và cả gây ung thư mà lại tiềm tàng ẩn chưa trong các thực phẩm như đậu phụng. Các tác nhân gây dị ứng quan trọng nhất có liên quan đến nấm là Aspergillus fumigatus vàAspergillus clavatus. Các loài khác cũng quan trọng trong tác nhân sinh bệnh cho nông nghiệp. Aspergillus spp. gây bệnh ở nhiều loại ngũ cốc, đặc biệt là bắp, ngô và tổng hợp nênmycotoxin (cả aflatoxin).

2. Sự phá hoại của loại vi sinh vật này

 

-Mới cách đây 30 năm thôi, rất ít người tin là nấm có thể sống được trên các chất vô cơ như sắt, nhôm và thủy tinh.

-Nhưng ngày nay thì đã thấy rõ là nấm có thể mọc và hủy hoại trên bất cứ chất gì, và sự bảo vệ chống nấm phá hoại trở nên khẩn cấp trong nhiều lĩnh vực. Thí dụ: như nấm có thể ăn mòn các khoang chứa nhiên liệu bằng nhôm của máy bay gây ra sự rò rỉ, nấm mọc trên các linh kiện điện tử IC làm hỏng các khí tài quang học.

-Một mặt khác có lợi ích hơn: người ta lại nhận thấy nấm có khả năng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại (gây bệnh cho con người) nên có những công trình nghiên cứu về nấm được ứng dụng trong lĩnh vực nghiên cứu bào chế thuốc và nghiên cứu về di truyền. Một vài công trình thắng lợi đã đạt tới đỉnh cao trong đề án Apollo, được ứng dụng để phòng chống sự phá hoại của các vi khuẩn.

 

3. Nấm mọc trên bề mặt thấu kính

Chúng ta hãy xem xét một vài giống nấm mọc được trên bề mặt các thấu kính, 50% các thấu kính mất phẩm chất vì có một lớp mờ phủ tạo nên bởi một vài loại nấm. Những nấm này gồm 2 loại: Aspergillus restrictus Eurotiumtonophilum Ohtsuki. Hai loại này được đặt tên theo tên của Tiến sĩ người Nhật Bản tên là Torao Ohtsuki, người đã tìm thấy chúng trong quá trình nghiên cứu phương pháp nuôi cấy và phòng chống nấm mốc.

Hai loại này đều thuộc vào giống Aspergillus dùng trong quy trình sản xuất rượu. Chúng phát triển nhanh trong môi trường nóng, ẩm như các loại nấm khác, nhưng riêng đối với hai loại nấm này, độ ẩm tối ưu của chúng hơi thấp hơn so với các nấm khác, điều quan trọng là hoàn cảnh tối ưu cho nấm mốc lại tương tự hoàn cảnh thích hợp cho sự sống con người nên việc ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc trở nên khó khăn cho chúng ta.

Aspergillus là một giống bao gồm vài trăm loài nấm khác nhau tìm thấy tại nhiều vùng có điều kiện khí hậu khác nhau trên thế giới. Aspergillus lần đầu tiên đưa vào danh sách là năm 1729 bởi một linh mục vừa là nhà sinh học người Ý tên Pier Antonio Micheli. Tổng quan về các nấm dưới KHV, Micheli nhắc lại hình ảnh của mộtaspergillum (giống như bình tưới nước_holy water sprinkler), từ gốc từ Latin spargere (tưới) và mang tên gọi theo giống kể từ đó. Ngày nay, "aspergillum" cũng được có tên một cấu trúc dạng bào tử vô tính đối với tất cả Aspergilli; khoảng 1/3 loài nấm được biết có giai đoạn hữu tính;

Các loài Aspergillus có tính ưa khí cao và tìm thấy trong hầu hết các vùng môi trường giàu oxy, ở đó chúng thường phát triển như mốc trên bề mặt các chất cần có nhu cầu oxy cao. Thông thường, nấm phát triển trên các cơ chất/ chất giáu carbon như monosaccharides (glucose) và polysaccharides (amylose). Các loài Aspergillusthường gây ô nhiễm trên các thực phẩm có tính tinh bột nhiều (bánh mì và khoai tây) và phát triển trong nhiều loại thực vật khác nhau.

Ngoài ra, chúng còn phát triển trên các nguồn carbon, nhiều loài Aspergillus biểu hiện “oligotrophy” ở đó chúng có khả năng phát triển trong môi trường có chất dinh dưỡng ở sâu, hoặc môi trường mà ở đó thiếu các chất dinh dưỡng chính yếu. A. niger là một ví dụ đầu tiên cho điều này, có thể phát triển trên các vách ẩm ướt.

Các loài Aspergillus về mặt y học và thương mại rất quan trọng. Một số loài có thể gây nhiễm trên người và các động vật khác. Một số loài nhiễm trùng tìm thấy trên động vật đã được nghiên cứu trong nhiều năm qua. Một số loài tìm thấy trên các động vật được mô tả như mới và đặc hữu với một số bệnh và số khác được biết như tên của tác nhân gây bệnh như saprophytes. Hơn 60 loài Aspergillus cho thấy có biểu hiện liên quan về mặt y học. Đối với con người, có một số bệnh như nhiễm trùng ở tai, da, loét được phân loại như u nấm “mycetomas”.

Các loài khác cũng rất quan trọng trong quá trình lên men của các vi sinh vật. Chẳng hạn, nước giải khát có cồn như rượu Sake Nhật Bản làm từ gạo hoặc tính bột khác như khoai mì, vi sinh vật thường sử dụng làm rượu như nấm men của giống Saccharomyces, không thể lên men các chất tính bột này và vì thế koji nấm như làAspergillus oryzae dùng để bẻ gãy các phân tử tinh bột thành các đường đơn. Các thành viên của giống nấm cũng là nguồn sản phẩm tự nhiên có thể dùng để phát triển thành thuốc điều trị bệnh cho con người. Có lẽ, ứng dụng lớn nhất của A. niger là nguồn citric acid chính; vi sinh vật này chiếm hơn 99% lượng citric acid toàn cầu hoặc hơn 1.4 triệu tấn mỗi năm. A. niger cũng thường sử dụng cho công tác sản xuất các enzymes, gồm glucose oxidase vàlysozyme. Trong các tình huống này, việc nuôi cấy hiếm khi phát triển trên một môi trường rắn, mặc dù điều này vấn thường làm ở Nhật, nhưng thường phát triển trên các môi trường nuôi cấy ngập trong nước trong sự có mặt của các chất “bioreactor”. Theo cách này, các thông số q1uan trọng nhất có thể được khống chế chặt chẽ và tính sinh sản tói đa có thể đạt đến. Nó cũng dễ dàng để tách các chất hóa học và enzyme quan trọng từ trong môi trường và vì thế sẽ đạt được chi phí-hiệu quả.

Bệnh Aspergillosis

Aspergillosis là một nhóm bệnh gây ra bởi các Aspergillus. Phụ type hay gặp gây bệnh nhiễm trùng mũi xoang chính là aspergillosis do tác nhân Aspergillus fumigatus. Trên người, các thể bệnh hay gặp là:

-Viêm phế quản phổi dị ứng do nấm Aspergillus (Allergic bronchopulmonary aspergillosis) hay ABPA, ảnh hưởng lên các bệnh nhân có bệnh lý hô hấp như hen, xơ nang phổi và viêm xoang;

-Hội chứng nấm xâm nhập cấp tính (Acute invasive aspergillosis), một thể bệnh phát triển trên các mô xung quanh, thường gặp ở những người suy giảm hệ miễn dịch như AIDS đang dùng liệu pháp chống ung thư;

-Bệnh do nấm Aspergillus xâm nhập lan tỏa (Disseminated invasive aspergillosis), một hình thái nhiễm trùng lan rộng khắp cơ thể;

-U nấm Aspergillus (Aspergilloma), một loại banh nấm ("fungus ball") có thể hình thành trong các khoang như phổi chẳng hạn.

Bệnh Aspergillosis của đường hô hấp cũng thường được báo cáo ở chim, một số khác gây nhiễm côn trùng. Các số khác đã được báo cáo gây nên nhiễm trùng viêm cơ tim sau khi thay van tim (Mencl và cs., 1985). Hoặc báo cáo liên quan đến nấm móng (Schonborn & Schmoranzer, 1970) và u nấm phổi (Estrader và cs., 1972).

 

Điều kiện môi trường tạo cho nấm phát triển và gây hại cho kính

Lý do nấm có thể mọc ở môi trường có ít hơi nước được do áp suất thẩm thấu bên trong sợi nấm có thể đạt tới 200 atm. Khả năng đó cho phép các tế bào nấm hút được hơi nước trong khí quyển một cách dễ dàng. Tuy nhiên khả năng hút được hơi ẩm quá cao đó lại có thể phá vỡ các tế bào của nấm khi chúng được đặt trong môi trường có độ ẩm 100% hay được dìm trong nước. Trái lại nếu áp suất thẩm thấu bên trong sợi nấm thấp dưới 10 atm thì chúng vẫn sống được ngay cả khi bị dìm trong nước.

Khả năng vốn có của nấm để mọc được trên thấu kính:

Ngoài những điều đã kể trên, để mọc được dễ dàng trên thấu kính, nấm có những đặc tính sau:

-Bản năng nảy mầm được trong khí quyển.

-Khả năng nảy mầm của các bào tử khi đứng đơn độc.

-Có thể nảy mầm dể dàng trên một mặt nhẵn không có chổ bám.

-Nấm có bản năng nảy mầm được trong khí quyển do các bào tử nấm có khả năng hút được lượng nước cần thiết cho sự nảy mầm khi nước ở trạng thái hơi.

-Khả năng nảy mầm của một bào tử đứng đơn độc là đặc tính của 2 loại nấm đã nói ở trên vì hầu hết các nấm chỉ nảy mầm khi có cả một đám tập trung.

-Một bào tử nấm rơi vào một mặt phẳng thì một mặt có lợi thế là không gian tiếp xúc với khí quyển thoáng hơn nhưng trên bề mặt thấu kính quá nhẵn, rễ nấm khó bám và khó tìm được chất dinh dưỡng và hơi ẩm tích tụ. Tuy nhiên, nấm vẫn mọc được, bào tử của nấm này không cần chất dinh dưỡng vẫn nảy mầm được.

Những tổn thương do nấm gây ra trên thấu kính:

-Nấm làm giảm chất lượng của các thấu kính một cách đáng kể, thứ nhất: thấu kính bị phủ một lớp mờ mốc mất tính trong suốt, thứ hai là các sợi nấm phân tán ánh sáng làm cho ảnh mất sắc nét;

-Dù cho nấm đã mọc được trên mặt thấu kính, rễ của nó thường chưa bám chặt vào bề mặt của thấu kính và có thể lau đi được, may ra thì chất lượng của kính có thể cứu vãn được. Không may thì rể nấm để lại những vết ăn mòn độ trong suốt của kính không cứu vãn được nữa, sự việc đó xảy ra như thế nào? Đó là khi có các sợi nấm bám vào bề mặt thấu kính, để lâu hơi nước sẽ tích tụ lại tại đó, hơi nước sẽ hòa tan với một axit hữu cơ do nấm tiết ra và ăn mòn mặt bóng của thấu kính;

-Như vậy là một cơ chế sinh học phức tạp kết hợp với một phản ứng hóa học đã xảy ra trên bề mặt của thấu kính;

-Một khi sự việc đó đã xảy ra thì chỉ còn một giải pháp là thay bỏ cái thấu kính đó bằng một cái mới.

Bảo vệ chống nấm trong điều kiện tự nhiên:

a) Những điều kiện tạo sự bảo vệ tự nhiên chống nấm:

-Một môi trường khô độ ẩm thấp.

-Nhiệt độ đủ thấp.

-Một bề mặt không có chất dinh dưỡng.

-Một nơi thông thoáng gió.

-Thỉnh thoảng được phơi nắng.

-Cách chống nấm mốc có hiệu quả tốt nhất là những điều 1, 2 và 3 trên, những điều 3, 4 và 5 có thể là điều bổ xung khi cần chống triệt để hơn.

-Tuy nhiên trong hoàn cảnh thông thường ta không có phương tiện kiểm tra những thông số thời tiết 1 và 2, đồ thị sau đây cho ta thấy khoảng thời gian thuận lợi nhất trong năm, cho nấm phát triển của một số địa danh lấy làm thí dụ. Để biết được thời gian cần chú ý chống nấm mốc của mổi nơi có thể xin biểu đồ diển biến độ ẩm và nhiệt độ trong một năm của nơi đó ở các cơ quan khí tượng, các cơ quan đó sẳn sàng cung cấp.

-Điều kiện tối ưu thay đổi tùy theo vùng khí hậu.

-Ở vùng Á đông lắm nắng, nhiều mưa, không thể ngăn cản nấm mốc phát triển được, trừ phi đặt kính hiển vi trong phòng vô khuẩn. Trái lại ở châu Âu và Bắc Mỹ là những nơi mà nấm mốc khó phát triển vì ở đó độ ẩm suốt mùa hè thấp trong khi đó nhiệt độ thì cao và suốt mùa đông có độ ẩm cao thì nhiệt độ lại thấp.

-Olympus có tác phong thường hỏi người sử dụng và được biết họ thao tác và cất giữ những kính hiển vi đã được tẩy rữa và lau chùi sạch trong buồng có máy điều hòa không khí. Nhưng cách đó rất tốn kém mà cũng không làm cho nấm hoàn toàn không không mọc được, những bào tử nấm có tiềm năng chịu đựng cao đến mức chúng có thể nẩy mầm và tung ra những sợi nấm ngay được một khi có độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, kể cả khi ở đó không có chất dinh dưỡng nó giống như những hạt đậu nảy mầm, bào tử nấm sử dụng những chất dự trữ sẵn có bên trong chúng.

Biện pháp chống nấm trên kính của Olympus:

-Nấm mốc là tác nhân chủ yếu phá hoại hệ thần kinh và lăng kính của kính hiển vi, cho nên đã từ lâu Olympusđã dầy công nghiên cứu và đã thử nghiệm qua nhiều phương án chống nấm như :

+ Chống nấm bằng cách trộn chất diệt nấm vào các chất dẻo.

+ Bằng cách phủ lớp diệt nấm lên các thấu kính.

+ Diệt nấm bằng nhiệt, bằng tia bức xạ, bằng khói.

+ Bằng cách tạo ra môi trường kháng nấm xung quanh kính hiển vi.

-Tuy có tác dụng nhưng mỗi phương án trên đều có những nhược điểm khi đưa vào thực tiển như: việc ứng dụng phiền phức, có hạn chế tính trong suốt của thấu kính, có tác dụng trong một khoảng thời gian không lâu dài và chi phí quá cao.v.v…

-Sau nhiều cố gắng vượt qua trở ngại, Olympus đã tìm được một giải pháp hoàn bị hơn là dùng một thuốc chống nấm. Hòa chất này trong môi trường bình thường ở trạng thái rắn nhưng có tính trực tiếp thăng hoa thành thể hơi rất độc hại đối với nấm mà lại không độc đối với người, không ăn mòn các kết cấu của kính hiển vi và không ngưng động trên bề mặt các lăng, thấu kính và không ảnh hưởng đến độ trong suốt của chúng;

-Đặt thuốc này bên trong kính hiển vi nó sẽ thăng hoa từ từ và liên tục cho đến khi hết và tạo ra môi trường bên trong kính luôn bão hòa hơi thuốc làm cho nấm bị tiêu diệt hoàn toàn. Thuốc được đóng thành những viên nén, bên ngoài viên thuốc lại được bọc một lớp bán thẩm có tác dụng điều tiết nhịp độ thăng hoa để kéo dài tác dụng của thuốc được tới từ 3 – 5 năm mới phải đặt thêm thuốc.

-Nhưng bên trong kính hiển vi không phải là môi trường kín vì có những khớp nối và những khu trượt nên kỹ thuật chế tạo đã chú ý giảm đến mức thấp nhất các kẽ hở như rãnh trượt của ống quan sát 2 thị kính cần thiết hiệu chỉnh khoảng cách đồng tử cho thích hợp với người dùng, được lắp thật khít để tránh sự thất thoát của thuốc chống nấm và sự xâm nhập của hơi nước bên ngoài có thể làm cho kính bị mờ mổi khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột vì có hiện tượng sương đọng trên các mặt trong của thấu kính.

-Đối với các vật kính và thị kính bên trong có nhiều tầng thấu kính thì khung gắn các thấu kínhđó cũng được tẩm thuốc chống nấm cùng loại để bên trong chúng cũng là những không gian không có nấm. Còn các mặt thấu kính bên ngoài của chúng phơi ra không khí thí phải phòng chống theo điều kiện tự nhiên như đã trình bày ở phần 6 ở trên.

 

Làm thế nào để bảo trì kính hiển vi tối ưu nhất?

Một KHV được cấp chính là một sự đầu tư. Ngay cả khi một môt hình sinh viên cũng thường phải dán nhãn ghi lưu ý cẩn trọng. KHV sẽ thay đổi về số lượng và tính năng, nhưng tuổi thọ sẽ kéo dài nếu chúng ta bảo quản và bảo trì chúng thích hợp. Quả vậy, với sự bảo dưỡng tốt, hầu hết các KHV sẽ dùng được trong nhiều năm. Nếu chúng ta là chủ riêng của KHV thì có lẽ nội dung này sẽ là thời điểm để chúng ta học cách bảo trì nó.

1.Giữ KHV trên một vật dụng cố định, phẳng vào bất cứ lúc nào cũng vậy. Điều này sẽ ngăn cho KHV khỏi chuyển dịch gây ra các vở gãy hoặc lỏng sút kính;

2.Lựa chọn vị trí đặt KHV của chúng ta vào một nơi khô và mát. Điều này sẽ ngăn sựu phát triển và hình thành nấm (mold), nấm mốc sương (mildew) hoặc nấm chung (fungus) cũng như tránh sự hoen rỉ và vỡ;

3.Bao KHV bằng khăn plastic bất cứ khi nào không sử dụng. Điều này tránh bụi bẩn vào các thấu kính, ống kính. Bao bọc bằng plastic có thể mua bất cứ nơi nào có bán KHV và nhiều KHV cũng có thể bao như thế;

4.Kiểm tra bụi bẩn trên các thấu kính thường kỳ. Nếu bạn nhìn thấy bất kỳ bụi kính, hãy dùng bàn chải chuyên dụng (camelhair art brush) lau nhẹ nó đi;

5.Mua các dung dịch lau tháu kính và giấy lau chuyên dụng và các dung dịch loại bỏ dầu dính trên các thấu kính hiển vi đã sẵn bị;

6.Cất KHV trong một thời gian dài bằng cách đặt chúng trong một túi bằng plastic lớn, có khóa kéo. Có thể ném vào đó vài gói hút ẩm silica gel trước khi khóa miệng túi plastic. Điều này sẽ giữ chúng cách ly với không khí bên ngoài và ngăn cản cho nấm hình thành;

7.Giữ các bộ phận kim loại của kính bằng dầu nhờn hoặc mỡ silicone. Điều này nên làm ít nhất 2 lần mỗi năm.

 

Lời khuyên và một số cảnh báo

1.Nếu bạn nhìn vào một tiêu bản bệnh phẩm thông qua thị kính trên KHV và nhìn thấy một hình ảnh nhòe, mờ không rõ nét, cố gắng tập trung /tụ vào (focus) thấu kính, nếu vết mờ vẫn còn tồn tại, chúng ta có thể lấy dầu lau trên bề mặt thấu kính cho sạch;

2.Khi chọn một vị trí để kính của chúng ta sử dụng hàng ngày, hãy chọn một nơi an toàn cho KHV của bạn là xa nguồn nước. Bạn không muốn kính của bạn bị bắn tung tóe nước chứ;

3.Không bao giờ dùng một bóng đền mà có công suất điện năng cao hơn nhà sản xuất yêu cầu cho KHV của chúng ta. Vì điều đó sẽ làm hỏng các phần chi tiết tinh chính xác bên trong của kính;

4.Không nên dùng loại dầu gì mà không có tên trong danh mục dầu chuyên dụng cho KHV để lau chùi các thấu KHV vì có thể gây ra các vết xước cho thấu kính, thậm chí ngay cả khi dùng một giấy lau thấu kính để làm sạch mà thôi.

Làm thế nào để lau sạch các slide của kính hiển vi

Khi bạn xem xong các mẫu bệnh phẩm dưới KHV, bạn phải lau sạch các slide đó. Các slide dùng soi KHV làm bằng loại thủy tính có lớp phủ đặc biệt thiết kế để có thể tái sử dụng. Do đó, nên rửa, lau sạch một cách nhanh chóng và thích hợp sẽ giúp bảo dưỡng các slide để sau này nhìn các vật thể vi sinh vật rõ ràng, chính xác. Một số hướng dẫn sau đây giúp bạn thực hành tốt hơn:

1.Nghĩ về những cái gì bạn sẽ cần: đĩa xà phòng dạng dung dịch, nước rửa, khăn giấy, cồn chuyên dụng để rửa (optional), hộp đựng có bao plastic có nắp và ống dẫn lưu;

2.nhỏ một giọt dung dịch rửa vào trên bề mặt của các slide;

3.Chà sát xà phòng lên trên toàn bộ bề mặt (cả 2 bề mặt) của slide bằng ngón tay. Da của ngón tay sẽ không cào xướt lớp vỏ bọc bên ngoài của slide kính nhưng một khăn giấy hoặc miếng bọt biển thì có thể;

4.Rửa mạnh dưới vòi nước đang chảy âm ấm (lukewarm running water) trong khi chúng ta vẫn tiếp tục cọ rửa bề mặt bằng ngón tay cho đến khi slide kêu lên tiếng “cót két” là sạch;

5.Vỗ nhẹ slide cho khô giữa 2 khăn giấy lau. Không nên cọ sát slide vào giấy vì có thể gây trày slide.

Lời khuyên và một số cảnh báo

·Cách tốt nhất để giữ sạch các slides và ngăn ngừa bụi bẩn và các chất gây nhiễm khác là để chúng vào trong hộp plastic sạch và phun cồn đủ lấp phủ bề mặt slide. Khóa hộp lại cho đến khi bạn dùng trở lại;

·Rửa sạch các slide bằng chất rửa thích hợp. Nếu bạn nhìn thấy các chất liệu gen học, kim loại hoặc các hợp chất phức hợp khác hãy xin tư vấn với các protocol của các la bô đối với các chất liệu thích hợp và quy trình dùng để lau các slide. Một số chất liệu phải được ủ ấm, hòa tan và loại bỏ.

Làm thế nào sửa soạn cho một slide

1.Một trong những phần cơ bản nhất làm việc với kính hiển vi là chuẩn chị lam bệnh phẩm. Các slide chứa bệnh phẩm sẽ được xem kiểm tra. Để nhìn thấy các bệnh phẩm một cách rõ ràng và quan sát nó trong một thời gian dài thì chúng ta cần phải biết chuẩn bị lam cho thích hợp;

2.Phải chắc chắn slide của bạn không phủ thuốc gì, làm sạch và không dính bụi bẩn;

3.Đặt slide lên một nơi phẳng, sạch, khô ráo;

4.Sử dụng bình nhỏ giọt, nhỏ vài giọt dung dịch lên phần chứa bệnh phẩm;

5.Nhỏ một giọt dung dịch lên vùng trung tâm của slide;

6.Không được đè mạnh lên phần slide hoặc góc slide;

7.Khi muốn xem lại, đặt slide lại nhẹ nhàng trên KHV và xem lại các bệnh phẩm

Vietmyiat(st)

  Nguồn :  http://www.impe-qn.org.vn